Quy định về xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam
Chính phủ ban hành Nghị định số 59/2026/NĐ-CP quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất.
Công dân nước ngoài nhập cảnh bằng thị thực điện tử vào Việt Nam qua cửa khẩu quốc tế Hữu Nghị (Lạng Sơn). (Ảnh minh họa)
Nghị định gồm 6 chương, 44 điều quy định về đối tượng áp dụng, thủ tục áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; quyền, nghĩa vụ của người bị áp dụng hình thức xử phạt trục xuất; biện pháp quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức thi hành hình thức xử phạt trục xuất.
Đối tượng áp dụng, thủ tục tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính; các trường hợp áp dụng biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính; quyền và nghĩa vụ của người bị áp dụng biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính.
Những quy định khác có liên quan đến việc áp dụng hình thức xử phạt trục xuất và biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính.
Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2026 và thay thế Nghị định số 142/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định hình thức xử phạt trục xuất, biện pháp tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo thủ tục hành chính và quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất. Đồng thời, bãi bỏ Điều 66 Nghị định số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình.
Tiếp nhận dữ liệu người dân cung cấp xử lý vi phạm
Nghị định số 61/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định rõ quy trình thu thập, sử dụng dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật do cá nhân, tổ chức cung cấp để phát hiện vi phạm hành chính.
Nghị định số 61/2026/NĐ-CP quy định: Dữ liệu do cá nhân, tổ chức thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cung cấp cho cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thông qua một trong các hình thức sau: Trực tiếp đến trụ sở cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền hoặc hiện trường xảy ra vụ việc để cung cấp hoặc địa điểm khác do người có thẩm quyền quyết định; Thư điện tử, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, Ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) và ứng dụng khác trên thiết bị di động, số điện thoại đường dây nóng được công bố chính thức; Dịch vụ bưu chính; Kết nối, chia sẻ dữ liệu qua nền tảng số hoặc hệ thống tích hợp, chia sẻ dữ liệu theo quy định của pháp luật.
Nghị định nêu rõ cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu có quyền: Cung cấp dữ liệu thu được từ phương tiện, thiết bị kỹ thuật cho cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thuộc các lực lượng theo quy định; Được bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân; Yêu cầu cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền thông báo kết quả xác minh, xử lý dữ liệu đã cung cấp bằng văn bản hoặc qua ứng dụng trên môi trường điện tử.
Cá nhân, tổ chức cung cấp dữ liệu có trách nhiệm: Cung cấp đầy đủ thông tin về họ tên, địa chỉ, phương thức liên lạc trong trường hợp cơ quan, đơn vị tiếp nhận, thu thập dữ liệu cần liên hệ; Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực, toàn vẹn của dữ liệu đã cung cấp; Phối hợp, hỗ trợ cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền trong quá trình giải quyết vụ việc khi được yêu cầu.
Nghị định quy định thời hạn xác minh không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý xác minh. Đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn xác minh được kéo dài nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý xác minh. Nghị định có hiệu lực từ ngày 1/4/2026.
Tăng chế tài vi phạm phòng cháy, chữa cháy, phạt đến 40 triệu đồng
Người dân mua thiết bị phòng cháy, chữa cháy tại Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh minh họa)
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 106/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Trong đó, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 6 về vi phạm quy định về tuyên truyền, phổ biến kiến thức, pháp luật, huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ theo hướng bổ sung đối tượng "người đứng đầu cơ sở" tại điểm c khoản 1 Điều 45 Luật phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ chưa được huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ để phù hợp với quy định tại Nghị định số 105/2025/NĐ-CP.
Theo quy định mới, phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức, cá nhân sử dụng đối tượng quy định tại các điểm c, d, đ, e và điểm g khoản 1 Điều 45 Luật phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ nhưng chưa có văn bản thông báo kết quả huấn luyện nghiệp vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Đối với vi phạm quy định về bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP bổ sung cụm từ "không đủ đối tượng bảo hiểm" tại khoản 1 Điều 17: "Mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc không đủ đối tượng bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc hoặc không đúng mức phí bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc theo quy định đối với cơ sở phải mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc" để phù hợp với Điều 35 Nghị định số 105/2025/NĐ-CP và Điều 23 Nghị định số 67/2023/NĐ-CP quy định về đối tượng bảo hiểm.
Đồng thời, Nghị định số 69/2026/NĐ-CP bổ sung điểm c của khoản 8 Điều 20 vi phạm quy định về trang bị, lắp đặt phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.
Theo quy định mới, hành vi trang bị phương tiện chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ cơ giới không bảo đảm theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
Thành lập, ban hành Quy chế hoạt động Quỹ phòng thủ dân sự Trung ương
Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 9/2026/QĐ-TTg ngày 6/3/2026 thành lập và ban hành Quy chế hoạt động Quỹ phòng thủ dân sự trung ương.
Quyết định nêu rõ: Thành lập Quỹ phòng thủ dân sự trung ương để tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước; nguồn điều tiết từ Quỹ phòng thủ dân sự cấp tỉnh về Quỹ phòng thủ dân sự trung ương theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và nguồn điều tiết từ các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách có liên quan đến hoạt động ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố, thảm họa.
Quỹ Phòng thủ dân sự trung ương do Bộ Quốc phòng quản lý. Quyết định số 9/2026/QĐ-TTg có hiệu lực từ ngày 20/4/2026.
Theo TTXVN