Dư địa nới lỏng tiền tệ thu hẹp, ngân hàng đứng trước nhiều thách thức
Chia sẻ tại chương trình Data Talk - The Catalyst bàn về những thuận lợi và thách thức của ngành ngân hàng năm 2026 vừa được tổ chức, ông Nguyễn Văn Trúc - Trưởng phòng Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Quốc gia (NSI) cho rằng, có nhiều yếu tố nhìn nhận triển vọng của ngành với sự lạc quan.
Về mặt thuận lợi, ông Trúc phân tích, định hướng của Chính phủ về mục tiêu tăng trưởng GDP 10% năm 2026 rất rõ ràng, dù đây là mục tiêu rất thách thức. Trước đó, năm 2025 được xem là năm bản lề khi hàng loạt nghị quyết quan trọng được ban hành, từng bước định hình các trụ cột chính sách và khung phát triển, tạo nền tảng thể chế thuận lợi hơn cho nền kinh tế trong 5 năm tới.
Khi tăng trưởng kinh tế thực chất, nhu cầu hấp thụ vốn của doanh nghiệp được kỳ vọng sẽ gia tăng. Cùng với đó, các đơn hàng xuất khẩu có khả năng quay trở lại, trong khi dòng vốn FDI vào lĩnh vực sản xuất tiếp tục được thúc đẩy.
Các chuyên gia phân tích về thuận lợi, khó khăn ảnh hưởng đến tăng trưởng ngành ngân hàng tại Data Talk - The Catalyst. Ảnh tư liệu.
Dù vậy, chuyên gia phân tích của NSI cho rằng, mức tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026 thực tế không phải quá cao (thấp hơn mức 19% của năm 2025). Vì thế, năm 2026 có thể là giai đoạn tăng trưởng mang tính thực chất hơn.
Về thách thức, khi cầu vốn tăng, nguồn cung cũng phải theo kịp. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng khoảng 15% trong năm 2026, quy mô vốn bơm ra nền kinh tế thực tế không chênh lệch nhiều so với năm trước, song bài toán lớn là làm sao cung cấp nguồn vốn này với chi phí hợp lý, không chỉ với Ngân hàng Nhà nước, mà còn với toàn hệ thống ngân hàng thương mại.
Lãi suất tăng 200 - 300 điểm cơ bản, áp lực nợ xấu hiện hữu
"Một thách thức lớn khác của ngành ngân hàng là khả năng kiểm soát nợ xấu. Theo thống kê, lãi suất tiết kiệm đã tăng khoảng 200 - 300 điểm cơ bản so với cả năm 2025 và lãi suất thị trường, lãi suất cơ sở những khoản vay thả nổi cũng tăng tương ứng. Trong ngắn hạn, điều này sẽ là thách thức lớn với khách hàng vay, trong việc đảm bảo chi trả những khoản vay đến hạn năm 2026. Đây có thể là rủi ro rất đáng chú ý, nợ xấu có thể gia tăng trở lại trong năm 2026".
Ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng
cao cấp Trung tâm phân tích,
Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC).
Theo ông Trúc, về yếu tố then chốt quyết định sự sống còn, triển vọng ngành ngân hàng năm 2026, cần lưu ý hai biến số chính.
Trước hết, cần bám sát các yếu tố vĩ mô. Nếu như năm 2025 xuất hiện rủi ro liên quan đến thuế quan, thì sang năm 2026, những rủi ro này không mất đi, mà có thể gia tăng khi cộng thêm các yếu tố bất ổn địa chính trị.
Thứ hai, năm 2026, các ngân hàng cần đặc biệt chú trọng quản trị yếu tố thanh khoản.
Khi giá dầu tăng mạnh, áp lực lạm phát tại Việt Nam cũng gia tăng, buộc mặt bằng lãi suất phải duy trì ở mức hợp lý để kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Trên thực tế, lãi suất trên thị trường 1 và thị trường 2 của hệ thống ngân hàng đã ở mức cao hơn so với trước.
Nhìn nhận thách thức với ngành ngân hàng, ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích Công ty Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) chỉ rõ, khó khăn lớn nhất là dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ đã thu hẹp đáng kể.
Điều này phản ánh định hướng điều hành thận trọng của Ngân hàng Nhà nước trong kiểm soát tăng trưởng tín dụng và định hướng dòng vốn. Thực tế, nhiều ngân hàng đã tăng lãi suất cho vay, trong đó, các khoản vay bất động sản phổ biến ở mức 10 - 14%, còn các khoản vay khác cũng tăng khoảng 200 điểm cơ bản so với năm 2025. Theo đó, tín dụng được dự báo sẽ hạn chế vào bất động sản và chuyển hướng nhiều hơn sang thương mại, sản xuất.
Bối cảnh này cũng kéo theo những thách thức khác, đặc biệt về mặt bằng lãi suất, tăng trưởng tín dụng và nguy cơ nợ xấu.
"Tăng trưởng trong năm 2025 đã đẩy mặt bằng lãi suất lên khá cao cuối năm ngoái và tiếp diễn đầu năm 2026. Thống kê ở rất nhiều ngân hàng, mức lãi suất tiền gửi huy động kỳ hạn 6 - 12 tháng đã tăng đến 200 - 300 điểm cơ bản" - ông Tùng nhấn mạnh.
Một vấn đề đáng chú ý là thanh khoản hệ thống. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, trong 2 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 1,4%; tăng trưởng huy động chỉ khoảng 0,8%. Theo chuyên gia của VDSC, khoảng cách giữa tín dụng và huy động tồn tại từ năm 2023 đến nay, các yếu tố tích lũy dần tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất từ cuối năm 2025.
Hội tụ lợi thế, các ngân hàng “đầu tàu” dẫn dắt tăng trưởng
Trong bối cảnh đan xen nhiều thách thức, thuận lợi, ông Nguyễn Văn Trúc đánh giá, nhóm ngân hàng đã có sự chuẩn bị từ nhiều năm trước về hệ thống công nghệ thông tin, hệ thống quản trị, đặc biệt là tệp khách hàng lớn, sẽ có lợi thế. Điển hình là các ngân hàng nằm trong những tập đoàn lớn, có hệ sinh thái rộng và tệp khách hàng đủ lớn như Techcombank.
Nhiều ngân hàng được kỳ vọng làm “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng. Ảnh minh họa.
Ông Trúc chỉ rõ, nếu huy động từ dân cư gặp khó khăn, ngân hàng có thể chuyển sang kênh trái phiếu, như Techcombank vẫn dễ dàng phát hành 8.000 - 10.000 tỷ đồng, trong khi nhiều ngân hàng khác phải rất nỗ lực mới phân phối được 1.000 - 2.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, Techcombank còn có lợi thế với Công ty Chứng khoán TCBS mạnh về số hóa và phân phối sản phẩm đầu tư.
"Năm 2026 sẽ là năm chọn lọc, thích nghi và những ngân hàng đã có sự chuẩn bị, có hệ thống quản trị, hệ sinh thái, tệp khách hàng ổn định đủ rộng sẽ là những ngân hàng có khả năng bứt phá" - chuyên gia của NSI nhấn mạnh.
Trong khi đó, ông Đỗ Thanh Tùng nhận định, những ngân hàng dẫn dắt tăng trưởng năm 2026 sẽ không ai khác ngoài những ngân hàng nhận cơ cấu các ngân hàng yếu kém, bao gồm MB, VPBank hay HDBank.
"Những ngân hàng này có hạn mức tăng trưởng tín dụng năm nay xấp xỉ 30%, cao vượt trội so với mặt bằng chung (mức chung chỉ 10 - 12%). Đó sẽ là lợi thế rất lớn cho các ngân hàng trong vấn đề tăng trưởng tín dụng, cũng như quy mô tổng tài sản" - ông Tùng phân tích.
Đồng quan điểm, ông Trúc cũng cho rằng, đây là phần thưởng xứng đáng cho nhóm ngân hàng lớn đã tiên phong nhận chuyển giao các tổ chức tín dụng yếu kém.
Đặc biệt, chuyên gia của NSI cũng chú ý đến nhóm "big 4", với lợi thế về chi phí vốn khi mặt bằng lãi suất đầu vào thấp hơn so với toàn hệ thống, qua đó giúp duy trì biên lãi ròng (NIM) ổn định. Các ngân hàng quốc doanh cũng là những tổ chức tín dụng chủ lực cung cấp vốn cho các dự án đầu tư công, qua đó, tạo thêm dư địa tăng trưởng.
Theo chuyên gia của NSI, đầu tàu dẫn dắt tăng trưởng của ngành ngân hàng trong năm nay gồm hai nhóm chính: nhóm ngân hàng tiên phong nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém và nhóm ngân hàng quốc doanh./.
Ánh Tuyết