Và cũng tại nơi này, những nỗi buồn vui, trăn trở của kiếp người vẫn hằng ngày được gửi vào dòng sông...
Những “ốc đảo”... không chân
Ngay dưới chân cầu Việt Trì hay dọc theo khúc quanh của sông Đà đoạn qua xã Thanh Thủy, sông Hồng đoạn qua xã Vạn Xuân, sông Lô đoạn qua xã Đoan Hùng... vẫn còn những xóm chài quần tụ trên dăm chiếc thuyền, hiện lên như những nét gạch ngang đen thẫm trên mặt nước mỗi khi hoàng hôn xuống. Gọi là xóm, là làng cho sang, chứ thực chất đó là những cụm thuyền nan, bè nứa, thuyền sắt... những “ngôi nhà không số” được kết lại với nhau bằng dây thừng và xích sắt, cắm sào quần tụ, túm tụm chờ con nước, luồng cá đến để tiếp tục bập bềnh cuộc mưu sinh trên sông.
Xóm chài với hơn chục con thuyền trên sông Hồng, ngay chân cầu Phong Châu thuộc khu 5, xã Vạn Xuân.
Ông Nguyễn Văn Thuận - một lão ngư có thâm niên hơn 60 năm bám trụ tại xóm chài ven sông Lô, địa bàn phường Thanh Miếu, ngước mắt nhìn ra dòng sông đang mùa nước cạn, thở dài: “Hơn nửa đời làm nghề chài lưới, đâu có cá đó là quê anh ạ. Dù đã lên bờ, an cư với ngôi nhà nhỏ, nhưng sông nước như ăn vào máu chúng tôi rồi nên không bỏ được”.
Đăm chiêu nhìn con nước trong ráng chiều, ông kể: "Tôi làm nghề gia truyền đấy. Ông bà xưa “gửi” nghề với mong muốn con cháu có miếng ăn, nhưng nghề hạ bạc khó giầu lắm. Bố mẹ nghèo, trao lại cho con thuyền cũ, lăn lộn sông nước rồi mãi cũng có chỗ cắm dùi. Ngỡ cũng như bố mẹ mình xưa, thuyền là nhà, nước là đất đến khi hết một kiếp người...”. Theo ông, giờ người làm nghề chài lưới ít dần, nên các làng chài cũng không còn bao nhiêu. Một phần do đời sống khá lên, nhiều hộ đã tìm cách an cư lạc nghiệp trên bờ; còn một phần do không có nghề nào mưu sinh tốt hơn, cực chẳng đã nên vẫn lăn lộn bám nghề.
Ông Thuận trầm ngâm kể thêm: Bên Cổ Đô, Ba Vì (Hà Nội) vẫn còn nhiều người “ăn đời, ở kiếp” với sông lắm, phần vì nghèo, phần vì rời sông lên bờ cũng không thạo nghề gì nên đành buông phận người theo con nước lênh đênh...
“Ngôi nhà” trên sông được định nghĩa rất khác. Đó là một chiếc thuyền xi măng hoặc thuyền gỗ, sang hơn là thuyền sắt chật chội, diện tích vỏn vẹn chục mét vuông. Nhiều nhà, mọi sinh hoạt từ nấu nướng, tắm giặt đến thờ cúng tổ tiên, thần sông, hà bá... đều gói gọn trong không gian nhỏ hẹp ấy. Những vật dụng giá trị nhất đôi khi chỉ là cái tivi cũ, bộ lưới đánh cá và chiếc bếp ga mini han gỉ vì hơi nước... Những “ốc đảo không chân” lênh đênh mặt nước đã sinh ra, nuôi lớn và chọn cách mưu sinh cho bao phận người.
Nghề chài lưới trên những dòng sông lớn ở Phú Thọ chưa bao giờ là dễ dàng. Sáng sớm, khi sương mù còn bao phủ mặt sông Đà, những chiếc thuyền nhỏ bập bềnh đã lặng lẽ tách bến và thuyền chính. Họ đi “săn” tôm cá cho cuộc mưu sinh ngày mai. Nhưng đó là chuyện của ngày xưa, bởi bây giờ dòng sông đã khác nhiều lắm rồi. Những năm gần đây, việc khai thác cát, sỏi diễn ra mạnh và các công trình thủy điện phía thượng nguồn đã liên tục làm thay đổi dòng chảy, khiến cá tôm ngày một cạn kiệt.
Chị Lan - một phụ nữ lam lũ tại làng chài ven sông Đà, xã Thanh Thủy vừa thoăn thoắt đan lại mắt lưới, vừa kể: “Có đêm thức trắng, quăng lưới hàng chục lần mà chỉ được vài con cá tạp, không đủ tiền dầu máy. Những ngày sông động, sóng đánh mạnh, cả nhà chỉ biết ngồi bó gối trên thuyền, cầu trời cho dây neo đừng đứt, cho nước lặng để còn lên bờ bình an”.
Cái nghèo không chỉ đến từ sự khan hiếm nguồn lợi thủy sản, mà còn từ sự bấp bênh của thời tiết, sự thay đổi của môi sinh. Vào mùa lũ, dòng sông Hồng đỏ quạch cuồn cuộn chảy, cuốn theo cây cối, rác rưởi, đe dọa nhấn chìm những mái nhà nổi. Ngược lại, vào mùa cạn, thuyền bè mắc cạn giữa bãi bùn, mùi hôi thối bốc lên, cuộc sống sinh hoạt càng trở nên khó khăn... Chỉ tay ra bãi bồi lớn trồi lên giữa sông Hồng nhiều tháng nay, ông Ích - một “cư dân trên thuyền”, nhà ven sông Hồng, địa bàn xã Bản Nguyên than dài: Sông cạn, lòng hẹp, tôm cá ngày càng ít. Trước, mỗi ngày còn kiếm được chút ít đưa bà nó mua gạo, nhưng mấy tuần nay khó khăn lắm, cá đi đâu hết sạch anh ạ”.
Sau những giờ mưu sinh trên mặt nước, chồng lại vá lưới, vợ dọn dẹp ngư cụ... là hình ảnh quen thuộc bao năm nay của những xóm chài trên sông.
Đau đáu kế mưu sinh
Nỗi ám ảnh lớn nhất của cư dân làng chài không phải là cái đói, mà là tương lai của thế hệ con em. Nhiều ngư dân già kể lại: Trước đây, tại các làng chài bên sông Lô, hình ảnh những đứa trẻ mới 2 - 3 tuổi đã bị bố mẹ dùng dây buộc vào cổ chân, đầu kia cột chặt vào mạn thuyền không là chuyện lạ. Đó là cách duy nhất để giữ chúng không rơi xuống sông khi bố mẹ mải mê kéo lưới bắt cá tôm vì cuộc mưu sinh.
Vì mưu sinh, vì quen việc sông nước nên việc học của trẻ cũng là hành trình đầy gian truân. Dù chính quyền địa phương có nhiều nỗ lực, nhưng sự di biến động của các hộ dân chài khiến con đường đến trường của các em cũng lắm... bập bềnh. Nhiều trẻ chỉ học hết tiểu học rồi lại “nối nghiệp” cha mẹ, cầm chèo, tung lưới, tiếp tục vòng lặp luẩn quẩn của cái nghèo, bởi với nhiều em, như đã bao đời nay truyền lại, sông nước là sân chơi, là trường học và cũng một thời, từng là giới hạn ngăn cách các em với “thế giới trên bờ”!.
Tại các xã Thanh Thủy, Đoan Hùng, Thanh Miếu... trên sông Lô, sông Hồng, chuyện xưa còn kể lại, đã có nhiều thế hệ sinh ra và chết đi ngay trên mặt nước mà chưa một lần được đứng tên trên một mảnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ước mơ “an cư” của nhiều người vẫn bồng bềnh theo con nước từng mùa...
Những năm qua, với nhiều nỗ lực, đã có những chính sách định canh định cư, hỗ trợ đất ở cho ngư dân. Nhiều xóm chài đã được “lên bờ”, tái định cư tại các khu tập trung như làng chài Vân Tập, xã Đoan Hùng. Tuy nhiên, hành trình này vẫn còn nhiều rào cản. Những người cả đời chỉ biết quăng chài, thả lưới, khi lên bờ họ sẽ làm gì để sống? Không ruộng vườn, không nghề phụ, nhiều người sau một thời gian lên bờ lại ngậm ngùi quay lại với con thuyền vì không tìm được sinh kế.
Ông Huỳnh - một ngư dân kỳ cựu trên sông Lô vừa gom mớ cá dưới lòng thuyền lõng bõng nước, vừa kể: Ở làng Vân Tập nhiều năm nay, số người lên bờ khá đông, nhưng có những người vẫn quay về nghề cũ anh ạ. Nhiều hộ vay ốn nuôi cá lồng, có người đi làm công nhân, nhưng phần vì không thạo việc trên bờ, phần vì nhớ nghề, nên nhiều người vẫn chọn bám sông. Nghề này, dù khó khăn nhưng vẫn có cái ăn, có đồng ra đồng vào đắp đổi qua ngày, chứ ở trên bờ thú thực cũng không biết làm gì để kiếm sống. Nghề không, vốn không... mà miếng ăn cứ quay quắt bám theo mỗi ngày.
Hoàng hôn buông xuống trên ngã ba Hạc, tiếng gõ mái chèo đuổi cá vẫn đều đặn vang lên giữa không gian tĩnh mịch. Những làng chài “nửa dưới nước, nửa trên bờ” trên sông Hồng, sông Lô, sông Đà... vẫn còn đó, nhẫn nại và kiên cường trước sóng gió mưu sinh.
Tuy vất vả, nhọc nhằn nhưng trong ánh mắt những ngư dân ấy vẫn lấp lánh một tình yêu kỳ lạ với dòng sông. Sông nuôi họ lớn, sông che chở họ và sông cũng là nơi họ gửi gắm hy vọng đổi đời. Họ là những người đang giữ lại chút hồn cốt cuối cùng của một nền văn hóa sông nước đầy gian truân hàng ngàn năm qua trên những con thuyền đầy sóng gió...
Quốc Hội