Những nhịp cầu nhân ái đi qua nỗi đau da cam

Những nhịp cầu nhân ái đi qua nỗi đau da cam
3 giờ trướcBài gốc
Nhân Kỷ niệm 65 năm thảm họa da cam ở Việt Nam và 20 năm thành lập Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thanh Hóa:
Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam trao 100 triệu đồng cho Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Thanh Hóa hỗ trợ gia đình các nạn nhân bị thiệt hại bởi thiên tai.
Nỗi đau chưa khép lại
Ngày 10/8/1961 đã trở thành dấu mốc đau thương trong lịch sử dân tộc khi quân đội Mỹ bắt đầu cuộc chiến tranh hóa học quy mô lớn nhất trong lịch sử loài người tại Việt Nam. Trong suốt một thập kỷ - từ năm 1961 đến 1971, quân đội Mỹ đã tiến hành 19.905 phi vụ, phun rải hơn 80 triệu lít chất độc hóa học (CĐHH) xuống gần 1/4 diện tích miền Nam Việt Nam; trong đó có tới 61% là chất độc da cam chứa dioxin cực độc. Khoảng 3,06 triệu ha đất đai, rừng núi, đồng ruộng bị hủy diệt; hàng nghìn làng mạc bị ô nhiễm nặng nề.
Đó không chỉ là cuộc chiến tranh hủy diệt môi trường mà còn là cuộc chiến để lại hậu quả dai dẳng đối với con người. Theo thống kê, hơn 4,8 triệu người Việt Nam bị phơi nhiễm CĐHH và trên 3 triệu người trở thành nạn nhân chất độc da cam (CĐDC). Đau đớn hơn, hậu quả ấy không dừng lại ở thế hệ trực tiếp mà tiếp tục di truyền sang thế hệ thứ hai, thứ ba, thậm chí thế hệ thứ tư.
Chiến tranh đã lùi xa nhưng nỗi đau da cam vẫn hiện diện trong đời sống hôm nay. Tại Thanh Hóa có 22.855 người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH; từ năm 2000 đến 2025 đã có 18.933 người được xác nhận nạn nhân CĐDC là người có công với cách mạng. Hiện nay, toàn tỉnh còn 11.518 nạn nhân; trong đó có 7.599 nạn nhân trực tiếp và 3.919 nạn nhân gián tiếp. Ngoài ra còn 1.285 cháu thuộc thế hệ thứ ba bị ảnh hưởng bởi di chứng CĐHH nhưng chưa được công nhận là nạn nhân CĐDC.
Đằng sau những con số ấy là hàng nghìn số phận đầy ám ảnh. Có 9.199 hộ gia đình có nạn nhân da cam; trong đó gần 2.000 hộ có từ 2 nạn nhân trở lên, 182 hộ có từ 3 nạn nhân trở lên. Có những người mẹ suốt hàng chục năm chưa một đêm ngủ trọn vì chăm con tật nguyền. Có những gia đình nghèo kiệt quệ vì chi phí thuốc men kéo dài. Có những đứa trẻ sinh ra chưa từng biết đến một tuổi thơ bình thường.
Nỗi đau da cam không chỉ là bệnh tật mà còn là sự giằng xé tinh thần kéo dài qua nhiều thế hệ. Nhiều nạn nhân mất hoàn toàn khả năng lao động; nhiều phụ nữ không thể thực hiện thiên chức làm mẹ; nhiều gia đình sống trong mặc cảm, tự ti và bế tắc. Chính vì thế, nạn nhân da cam thường được nhắc đến như “những người đau khổ nhất trong những người đau khổ”.
Suốt 65 năm qua, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đã không ngừng nỗ lực khắc phục hậu quả chiến tranh, chăm sóc và hỗ trợ nạn nhân CĐDC bằng nhiều chính sách thiết thực. Song, hành trình ấy vẫn còn rất dài, bởi di chứng chiến tranh hóa học chưa thể khép lại trong ngày một ngày hai. Nhắc nhớ về thảm họa da cam hôm nay là để nhắc nhở về giá trị của hòa bình, về trách nhiệm nhân văn đối với những con người đã phải mang trên mình hậu quả chiến tranh suốt cả cuộc đời.
20 năm vun đắp một mái nhà nghĩa tình
Ngày 1/6/2006, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thanh Hóa được thành lập theo Quyết định số 1531/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa. 20 năm qua, hội đã thực sự trở thành mái nhà chung của hàng nghìn nạn nhân da cam trên địa bàn tỉnh, là nhịp cầu kết nối yêu thương giữa cộng đồng với những phận đời bất hạnh.
Ngay từ những ngày đầu thành lập, hội đã xác định rõ phương châm hoạt động là hướng về cơ sở, hướng về nạn nhân, lấy nghĩa tình và trách nhiệm làm nền tảng. Từ miền biển, đồng bằng đến vùng sâu, vùng xa, cán bộ hội lặng lẽ đến từng gia đình để nắm bắt hoàn cảnh, vận động nguồn lực và sẻ chia với nạn nhân. Nhiều cán bộ hội là cựu chiến binh, từng đi qua chiến tranh nên càng thấu hiểu sâu sắc nỗi đau mà đồng đội và gia đình họ đang gánh chịu.
Sau 20 năm hoạt động, các cấp hội trong tỉnh đã vận động được hơn 103,6 tỷ đồng để chăm sóc, giúp đỡ nạn nhân CĐDC. Từ nguồn lực ấy, 730 căn nhà đã được xây mới và sửa chữa cho các gia đình nạn nhân với tổng kinh phí hơn 13,8 tỷ đồng. Hàng trăm gia đình từ chỗ sống trong nhà tranh tre, dột nát nay đã có nơi ở ổn định, an toàn hơn. Không chỉ hỗ trợ về nhà ở, hội còn phối hợp tổ chức nhiều hoạt động chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ sinh kế cho nạn nhân. Đã có 154.135 lượt nạn nhân được trao quà nhân các dịp lễ, tết với tổng giá trị gần 85 tỷ đồng; 11.029 lượt nạn nhân được khám bệnh, cấp thuốc miễn phí; 1.729 nạn nhân được tặng xe lăn, xe lắc...
Những con số ấy không đơn thuần là kết quả của hoạt động an sinh xã hội mà còn là minh chứng cho sự lan tỏa của tinh thần nhân ái trong cộng đồng. Từ các doanh nghiệp, tổ chức tôn giáo, ngân hàng đến những người dân bình dị đều đã chung tay góp sức “xoa dịu nỗi đau da cam”. Nhiều nhà hảo tâm đồng hành với hội suốt hàng chục năm, coi việc chăm lo cho nạn nhân da cam như một phần trách nhiệm với quê hương, đất nước.
20 năm chưa phải là dài, nhưng đủ để khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của một hành trình đầy nghĩa tình. Đó là hành trình của sự sẻ chia, của trách nhiệm cộng đồng và của đạo lý “uống nước nhớ nguồn” được gìn giữ, bồi đắp qua từng thế hệ.
Thắp lên niềm tin từ nghị lực và lòng nhân ái
Điều khiến nhiều người xúc động trong hành trình đồng hành cùng nạn nhân da cam không chỉ là những mất mát mà còn là nghị lực phi thường của họ. Giữa bệnh tật, nghèo khó và những thiệt thòi kéo dài, nhiều nạn nhân vẫn kiên cường vươn lên, không đầu hàng số phận.
Ở nhiều vùng quê trên địa bàn tỉnh, có những nạn nhân dù mang dị tật vẫn cố gắng lao động để tự nuôi sống bản thân và gia đình. Có những người mẹ suốt mấy chục năm âm thầm chăm con bệnh tật nhưng chưa bao giờ đánh mất niềm tin vào cuộc sống. Có những cháu nhỏ sinh ra không lành lặn nhưng vẫn nỗ lực học tập, vượt lên nghịch cảnh để trở thành niềm tự hào của gia đình... Chính những con người ấy đã lặng lẽ truyền đi thông điệp về ý chí sống và khát vọng vươn lên. Họ khiến cộng đồng hiểu rằng phía sau nỗi đau da cam vẫn luôn có ánh sáng của niềm tin và tình yêu thương.
Ông Dương Văn Huệ, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thanh Hóa trao học bổng khuyến học cho cháu nạn nhân chất độc da cam tại xã Nga Sơn.
Không chỉ chăm sóc nạn nhân, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thanh Hóa còn kiên trì thực hiện nhiệm vụ đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân da cam. Những năm qua, hội đã phối hợp điều tra, lập hồ sơ cho 1.800 nạn nhân thế hệ thứ ba; in và phát hành 30 bộ sách ảnh về các gia đình có từ hai nạn nhân da cam trở lên để làm cơ sở phục vụ công tác đấu tranh đòi công lý. Hội cũng vận động được 65.000 chữ ký ủng hộ bà Trần Tố Nga trong vụ kiện các công ty hóa chất Mỹ và gần 47.000 chữ ký hưởng ứng phong trào “Xóa bỏ vũ khí hạt nhân”.
Song hành với đó là nhiều hoạt động đối ngoại Nhân dân, vận động các tổ chức quốc tế hỗ trợ nạn nhân da cam tại Thanh Hóa. Nhiều tổ chức từ Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ireland đã hỗ trợ khám chữa bệnh, tặng quà, giúp sinh kế cho các gia đình nạn nhân. Những nghĩa cử ấy không chỉ mang giá trị vật chất mà còn thể hiện sự đồng cảm của bạn bè quốc tế trước nỗi đau chiến tranh mà Nhân dân Việt Nam đang phải gánh chịu.
Điều đáng quý hơn cả là từ hành trình ấy, tinh thần nhân ái trong cộng đồng ngày càng được khơi dậy mạnh mẽ. Nhiều tổ chức, doanh nghiệp và người dân đã xem việc chăm sóc nạn nhân da cam không chỉ là hoạt động từ thiện mà còn là trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ đạo lý.
Những nhịp cầu yêu thương vẫn đang tiếp tục được nối dài để không một nạn nhân da cam nào bị bỏ lại phía sau. Bởi hơn ai hết, họ cần được sống trong sự sẻ chia, yêu thương và trân trọng như những con người đã phải mang trên mình hậu quả chiến tranh suốt cả cuộc đời.
Ông Dương Văn Huệ, Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thanh Hóa cho rằng, 65 năm sau thảm họa da cam, nỗi đau chiến tranh vẫn chưa thể khép lại khi nhiều gia đình còn mang di chứng qua nhiều thế hệ. Tuy nhiên, bằng sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và nghĩa tình của cộng đồng, hàng nghìn nạn nhân trên địa bàn tỉnh đã được chăm sóc, hỗ trợ, tiếp thêm nghị lực để vươn lên trong cuộc sống. Thời gian tới, hội sẽ tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, đẩy mạnh xã hội hóa công tác chăm sóc nạn nhân, huy động nhiều hơn nguồn lực từ các tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm để giúp đỡ những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. “Không để ai bị bỏ lại phía sau” không chỉ là mục tiêu hành động mà còn là trách nhiệm, là đạo lý đối với những người đã phải mang trên mình hậu quả chiến tranh suốt cả cuộc đời.
Bài và ảnh: Trần Hằng
Nguồn Thanh Hóa : http://baothanhhoa.vn/nhung-nhip-cau-nhan-ai-di-qua-noi-dau-da-cam-289103.htm