Chỉ đạo và chủ trì tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8
Ngay sau khi trở về Pác Bó, với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, từ ngày 10 - 19/5/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị lần thứ 8 của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại lán Khuổi Nặm (Pác Bó, xã Trường Hà), tham dự Hội nghị có các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt, Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Bùi San, Hồ Xuân Lưu... Sau khi phân tích sâu sắc tình hình thế giới và trong nước, Hội nghị nhất trí cần giương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhận định rõ kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương lúc bấy giờ; hoàn chỉnh sự chuyển hướng chiến lược, sách lược của cách mạng Việt Nam; tiếp tục chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, chỉ tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian, chia lại ruộng công, giảm tô, rồi sau này sẽ tiến lên thực hiện đầy đủ chính sách “người cày có ruộng”.
Đối với cách mạng Đông Dương, Hội nghị chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong phạm vi từng nước, quyết định thành lập mặt trận dân tộc thống nhất ở mỗi nước; ở Việt Nam thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Vấn đề chính quyền, Hội nghị cũng chỉ rõ: “... không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô Viết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”. Về vấn đề khởi nghĩa vũ trang, Hội nghị nhận định “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang”, phân tích kỹ những điều kiện khách quan, chủ quan thuận lợi cho một cuộc khởi nghĩa, dự đoán sự phát triển mau lẹ của tình hình và nhấn mạnh việc không được ỷ lại vào những điều kiện bên ngoài, chú trọng công tác xây dựng Đảng, đào tạo cán bộ. Hội nghị đã kiện toàn cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng chính thức, Ban Thường vụ Trung ương Đảng và bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư; trên cơ sở đó kiện toàn các cấp bộ Đảng từ Xứ ủy đến các cấp bộ Đảng ở các địa phương.
Từ Pác Bó, những vấn đề trọng đại và quyết sách đúng đắn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 đã hoàn thiện, hoàn chỉnh chính xác các vấn đề chiến lược, sách lược cách mạng Việt Nam, có ý nghĩa lịch sử to lớn và có tính chất quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Thành lập Mặt trận Việt Minh, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc
Ngay sau khi về nước, tại Pác Bó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp chỉ đạo công tác thí điểm xây dựng Mặt trận Việt Minh ở 3 châu: Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình. Chỉ trong vòng 3 tháng, từ tháng 2 - 4/1941, phong trào Việt Minh đã thu hút tới 2.000 người thuộc đủ các thành phần dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông...; đủ các lứa tuổi, đủ các giới tham gia các đoàn thể: Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc... Trước sự lớn mạnh của các đoàn thể cứu quốc ở 3 châu thí điểm, theo chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 4/1941, Hội nghị cán bộ Cao Bằng tổ chức rút kinh nghiệm về tổ chức Mặt trận Việt Minh.
Trên cơ sở của những kinh nghiệm này, ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh), lấy cờ đỏ sao vàng 5 cánh làm cờ của Việt Minh và sẽ làm cờ Tổ quốc khi thành lập nước. Các đoàn thể quần chúng yêu nước chống đế quốc đều thống nhất lấy tên Hội cứu quốc như: Công nhân cứu quốc hội, Nông dân cứu quốc hội, Thanh niên cứu quốc hội, Phụ nữ cứu quốc hội, Phụ lão cứu quốc hội, Nhi đồng cứu quốc hội... Việt Minh đã công bố Chương trình và Điều lệ Việt Minh nhằm liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu, nghèo, già, trẻ, gái, trai, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, “cốt thực hiện 2 điều mà toàn thể đồng bào đang mong ước: Làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập; Làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do”.
Lán Khuổi Nặm - nơi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (từ ngày 10 - 19/5/1941). Ảnh: Thế Vĩnh
Chỉ đạo công tác vận động xây dựng lực lượng quần chúng cách mạng, khai sinh mô hình nhà nước tương lai
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin “cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Người rất chú trọng đến công tác tuyên truyền, vận động quần chúng, xây dựng cơ sở chính trị trong quần chúng, trước hết là từ Pác Bó. Dưới sự chỉ đạo sát sao, bền bỉ của Người và sự đấu tranh kiên trì của các chiến sĩ cách mạng kiên trung, các tổ chức quần chúng lần lượt được thành lập, phát triển mạnh mẽ.
Trước những biến chuyển của tình hình thế giới và trong nước, vấn đề liên lạc với Trung ương ở miền xuôi càng trở nên đặc biệt quan trọng hơn. Tháng 3/1942, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ đạo cán bộ đang hoạt động ở Cao Bằng: “Ngoài lối liên lạc thường dùng bằng giao thông bí mật, phải cấp tốc tổ chức những con đường quần chúng từ Cao Bằng đi về miền xuôi”. Thực hiện chỉ thị của Người, tháng 2/1943, tại Lũng Hoài (Hồng Việt, xã Hòa An), Hội nghị liên tịch giữa Tổng bộ Việt Minh, Liên Tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng và đại biểu Cứu quốc quân đã bàn việc mở rộng phong trào “Nam tiến” để tạo ra con đường liên lạc từ Cao Bằng phát triển sang các hướng: Bắc Kạn (nay là Thái Nguyên), Lạng Sơn, Hà Giang (nay là Tuyên Quang). Sau Hội nghị, các tuyến xung phong “Nam tiến” được tổ chức và bắt đầu lên đường thực thi nhiệm vụ.
Chỉ đạo công tác đào tạo, huấn luyện cán bộ cách mạng
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo, huấn luyện cán bộ. Từ Pác Bó, Người chỉ đạo mở các lớp đào tạo, huấn luyện cán bộ phù hợp với từng đối tượng, lứa tuổi, trình độ của nhân dân, trong đó chú trọng tới lực lượng thanh niên và coi đây là lực lượng nòng cốt, xung kích của phong trào. Chiến lược huấn luyện, đào tạo cán bộ của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại căn cứ địa cách mạng Cao Bằng vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa chuẩn bị cho lâu dài, cả cán bộ chính trị và cán bộ quân sự. Đội ngũ cán bộ do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng chỉ đạo trực tiếp đào tạo, huấn luyện ở Cao Bằng đã nhanh chóng trưởng thành về mọi mặt, được tôi luyện cả thực tiễn và lý luận. Đó là cơ sở để thu hút quần chúng tham gia, góp phần quan trọng đưa phong trào cách mạng của quần chúng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng, tiến đến Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Nhiều đồng chí cán bộ trưởng thành từ những lớp huấn luyện của Người, sau này trở thành những cán bộ trung kiên, cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang chủ lực của cách mạng
Xác định tầm quan trọng của việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 11/1941, Tỉnh ủy Cao Bằng thành lập đội du kích tập trung (còn gọi là Đội du kích Pác Bó) tại Pài Co Nhản, Pác Bó, xã Trường Hà. Đội gồm 12 thành viên do đồng chí Lê Quảng Ba là Đội trưởng, với nhiệm vụ: Bảo vệ cơ quan, bảo vệ cán bộ; làm giao thông liên lạc đặc biệt; vũ trang tuyên truyền trong quần chúng; huấn luyện cho các đội tự vệ chiến đấu ở địa phương và làm nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang sau này. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giáo dục chính trị, hướng dẫn quân sự và viết tài liệu huấn luyện quân sự cho đội. Thực hiện chỉ thị của Người, đầu tháng 4/1942, đội du kích phân tán hoạt động, từ đó, nhiều đội vũ trang ở các châu được thành lập. Đội du kích Pác Bó hoạt động đến tháng 7/1943 thì kết thúc.
Đến cuối năm 1944, trước yêu cầu thực tiễn và thời cơ có nhiều biến chuyển, lãnh tụ Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đấu tranh phải tiến dần từ chính trị sang quân sự nhưng “chính trị trọng hơn quân sự”, cần một hình thức phù hợp; vì vậy Người chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Thực hiện Chỉ thị của Người, ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - đội quân chủ lực đầu tiên, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng ngày nay được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình (nay thuộc xã Tam Kim). Đội gồm 34 chiến sĩ với 34 khẩu súng các loại, chia làm 3 tiểu đội, có chi bộ Đảng lãnh đạo, do đồng chí Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy. Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, chỉ sau 2 ngày thành lập, Đội lần lượt giành thắng lợi trận Phai Khắt (ngày 25/12/1944) và Nà Ngần (ngày 26/12/1944), gây tiếng vang lớn, cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng trong cả nước. Sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là một bước ngoặt lịch sử trên con đường đấu tranh cách mạng giải phóng của dân tộc ta.
Trang nhất báo Việt Nam Độc lập số đầu, ra ngày 1/8/1941. Ảnh T.L
Chỉ đạo công tác tuyên truyền dưới nhiều hình thức, đưa đường lối, chủ trương của Đảng đến với phong trào cách mạng
Nhằm động viên lực lượng trong cuộc đấu tranh cách mạng ngày càng phát triển, ở Pác Bó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã bàn với các đồng chí trong Đảng bộ Cao Bằng ra một tờ báo để truyên truyền chủ trương, chính sách, đường lối của Mặt trận Việt Minh, góp phần thúc đẩy các tổ chức cứu quốc phát triển. Sau hơn 2 tháng chuẩn bị, Báo Việt Nam Độc lập số đầu tiên được xuất bản ngày 1/8/1941 tại lán Khuổi Nặm 2, Pác Bó với danh nghĩa của Tổng bộ Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp phụ trách. Người là “linh hồn” của tờ báo, vừa quan tâm, chỉ đạo sát sao, vừa là người viết, vừa là người duyệt, vẽ tranh minh họa, tranh cổ động và tham gia in báo. Đây là tờ báo đầu tiên được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập ở trong nước, cũng là tờ báo tồn tại lâu nhất trong số những tờ báo ra đời trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Ảnh hưởng của Báo Việt Nam Độc lập không chỉ giới hạn trong tỉnh mà lan rộng sang các tỉnh xung quanh (Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên), do đó dẫn đến sự ra đời của các Hội cứu quốc và các đoàn thể Việt Minh, tạo nên phong trào cách mạng sôi động, rộng khắp trong cả nước. Báo Việt Nam Độc lập thực sự trở thành một vũ khí sắc bén của Mặt trận Việt Minh trong cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc.
Ngoài tờ báo, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc biên soạn nhiều sách, phần nhiều theo thể văn vần như: “Con đường giải phóng”, “Mười điều Việt Minh”, “Lịch sử nước ta”, “Địa dư Cao Bằng”, “Việt Minh ngũ tự kinh”... để hướng dẫn phong trào. Người còn sáng tác khoảng 30 bài thơ, trong đó có 20 bài thơ tuyên truyền, vận động cách mạng cho các đối tượng khác nhau: thanh niên, phụ nữ, nông dân, phụ lão, thiếu niên, binh lính... nhằm mục đích giáo dục quần chúng về tinh thần yêu nước, truyền thống đấu tranh bất khuất, kiên cường của dân tộc.
Chỉ đạo xây dựng quan hệ quốc tế
Từ Pác Bó, nhiều lần lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sang Trung Quốc bắt liên lạc với các tổ chức cách mạng Việt Nam và đồng minh. Trong chuyến đi Trung Quốc tháng 8/1942, Người lấy tên mới là Hồ Chí Minh, khi đến Túc Vinh, huyện Đức Bảo, tỉnh Quảng Tây, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ, áp giải đi hơn 30 nhà lao, sau hơn một năm giam cầm mà không khai thác được gì, cuối cùng chúng buộc phải trả tự do cho Người.
Tháng 2/1945, Người lại từ Pác Bó đi Côn Minh (Trung Quốc) để tham dự Hội nghị Đồng minh chống phát xít, Người trực tiếp liên lạc với quân đội đồng minh bàn về việc phối hợp chiến đấu chống phát xít, nhằm mục đích chủ động đặt quan hệ với Mỹ, tranh thủ sự giúp đỡ vật chất từ phía Mỹ và hạn chế sự phá hoại của quốc dân Đảng Trung Hoa đang tích cực chuẩn bị cho kế hoạch “Hoa quân nhập Việt” sau chiến tranh. Như vậy, ngay từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cánh cửa quan hệ Việt - Mỹ được khai mở, mà Cao Bằng là mốc khởi đầu cho mối quan hệ đó, Người đã tranh thủ mối quan hệ này để làm nhiều việc cho cách mạng. Thông qua cách ứng xử của Người mà người Mỹ hiểu về nhân dân Việt Nam và Người đã để lại trong lòng những người bạn Mỹ những tình cảm sâu sắc không chỉ lúc đó mà cả sau này.
Tháng 5/1945, Người quyết định di chuyển đại bản doanh lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang) để thuận tiện cho việc lãnh đạo phong trào chung của toàn quốc. Tại Tân Trào, Người chỉ thị thành lập Khu giải phóng Việt Bắc, thống nhất các lực lượng vũ trang thành Việt Nam giải phóng quân. Từ Quốc dân Đại hội, Người kêu gọi Tổng khởi nghĩa. Theo lời kêu gọi của Người, toàn dân ta đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Người đã “xây dựng được những nhân tố để bảo đảm thắng lợi cho cách mạng”. Người sáng lập Đảng, sáng lập Mặt trận Dân tộc thống nhất, sáng lập lực lượng vũ trang, sáng lập chính quyền nhân dân, trong đó có 3 sáng lập lớn Bác đã thực hiện tại Cao Bằng. Mảnh đất Pác Bó có vinh dự lớn là nơi Bác Hồ đặt chân đầu tiên khi trở về Tổ quốc sau 30 năm xa cách. Vinh dự càng lớn hơn vì chính tại Pác Bó, Người đã thực hiện những sáng lập, quyết sách vô cùng quan trọng, xây dựng nơi đây trở thành “đại bản doanh” của căn cứ Việt Bắc, “chiếc nôi của cách mạng Việt Nam” để “từ núi rừng này, ngọn lửa cách mạng giải phóng dân tộc đã được nhóm lên và tỏa sáng khắp mọi miền đất nước”, mở đường đi tới cho Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công.
Triệu Thu Trang