Quy định mới nhất về trường hợp nghỉ hưu sớm mà không bị trừ tỷ lệ lương hưu
Theo Thông tư 26/2025/TT-BNV của Bộ Nội vụ ban hành danh mục vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường.
Thông tư này quy định danh mục vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn để làm căn cứ xác định các trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn theo quy định tại khoản 3 Điều 169 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 và Điều 5 Nghị định số 135/2020/NĐ-CP ngày 18 tháng 11 năm 2020 của Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hưu. Cụ thể:
Trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn theo quy định tại khoản 3 Điều 169 Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14:
Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định tại khoản 2 Điều này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Người làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại có thể được về hưu sớm theo quy định. Ảnh minh họa: TL
Trường hợp có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 135/2020/NĐ-CP
Nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi nghỉ hưu trong điều kiện lao động bình thường của người lao động theo khoản 3 Điều 169 của Bộ luật Lao động được quy định cụ thể như sau:
- Người lao động thuộc các trường hợp dưới đây có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại Điều 4 của Nghị định này tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác:
+ Người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành.
+ Người lao động có từ đủ 15 năm trở lên làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021.
+ Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.
+ Người lao động có tổng thời gian làm nghề, công việc quy định tại điểm a và thời gian làm việc ở vùng quy định tại điểm b khoản này từ đủ 15 năm trở lên.
- Tuổi nghỉ hưu thấp nhất của người lao động quy định tại khoản 1 Điều này được thực hiện theo bảng dưới đây:
Như vậy, đối với người lao động có thời gian làm việc tại các vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo danh mục mới, việc được nghỉ hưu sớm hơn so với mốc tuổi nêu trên sẽ là một quyền lợi rất đáng chú ý từ năm 2026.
Mức hưởng tối đa lương hưu là bao nhiêu?
Tại Điều 99 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức hưởng tối đa lương hưu được tính dựa trên tỷ lệ phần trăm của mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (BHXH).
Cụ thể, mức lương hưu hằng tháng được xác định như sau:
Đối với lao động nữ: Mức lương hưu tối đa là 75% mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng BHXH. Mức này được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập cho 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, cho đến tối đa là 75%.
Đối với lao động nam: Mức lương hưu tối đa cũng là 75% mức bình quân thu nhập làm căn cứ đóng BHXH. Mức này được tính bằng 45% mức bình quân thu nhập cho 20 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 2%, nhưng tối đa không quá 75%.
Trường hợp lao động nam có thời gian đóng BHXH từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm, mức lương hưu hằng tháng bằng 40% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH tương ứng 15 năm đóng BHXH, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng thì tính thêm 01%.
- Mức lương hưu hằng tháng của đối tượng là người lao động thuộc một số nghề, công việc đặc biệt đặc thù trong lực lượng vũ trang nhân dân do Chính phủ quy định. Nguồn kinh phí thực hiện từ ngân sách Nhà nước.
- Mức lương hưu hằng tháng của đối tượng đủ điều kiện nghỉ hưu trước tuổi như đã nêu ở phần nội dung thứ nhất được tính như bảng trên, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.
Trường hợp thời gian nghỉ hưu trước tuổi dưới 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm hưởng lương hưu, từ đủ 06 tháng đến dưới 12 tháng thì giảm 01%.
Như vậy, có thể thấy, đối với người lao động nghỉ hưu sớm thì mức hưởng lương hưu tối đa là 75% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.
Ngoài ra, việc tính mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện hưởng lương hưu mà có thời gian đóng BHXH theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Việt Nam là thành viên nhưng có thời gian đóng BHXH ở Việt Nam dưới 15 năm thì mỗi năm đóng trong thời gian này được tính bằng 2,25% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH.