Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại xã Yên Phong.
Đa dạng làng nghề, làng có nghề
Ninh Bình có trên 102.500 cơ sở sản xuất nghề, làng nghề. Toàn tỉnh hiện có 171 làng nghề, làng nghề truyền thống được công nhận theo Nghị định 52/2018/NĐ-CP (trong đó có 117 làng nghề, 54 làng nghề truyền thống). Toàn tỉnh có 65 Nghệ nhân Ưu tú cấp quốc gia và cấp tỉnh, trong đó có 13 nghệ nhân cấp quốc gia.
Nhiều nghề đã tồn tại hàng nghìn năm như: đá mỹ nghệ Ninh Vân, thêu ren, mộc truyền thống, cơ khí, dân dụng, đan cói… Đây là nền tảng quan trọng để bảo tồn và phát triển ngành nghề nông thôn gắn với văn hóa bản địa.
Nghề làm bánh đa nem làng Chều, xã Nam Xang là nghề truyền thống từ lâu đời, đến nay vẫn luôn được gìn giữ và phát triển. Toàn xã hiện có 5 thôn với hàng trăm hộ tham gia làm nghề, doanh thu hằng năm từ sản xuất bánh đa nem ước đạt gần 400 tỷ đồng. Những chiếc bánh đa nem được sản xuất tại đây có đặc trưng riêng: màu bánh trắng, mềm và có độ dẻo cao, thơm mùi gạo. Thương hiệu bánh đa nem đã được nhiều người biết đến và tiêu thụ rộng khắp trong cả nước, thậm chí là xuất khẩu đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc…
Để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, các hộ làm bánh đa nem đã chú trọng bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao chất lượng, đa dạng hóa hình thức mẫu mã sản phẩm. Một số hộ đã mạnh dạn ứng dụng máy móc hiện đại, xây dựng quy trình sản xuất khép kín để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
Người dân làng Chều (xã Nam Xang) duy trì và phát triển nghề làm bánh đa nem truyền thống qua nhiều thế hệ.
Ông Trần Ngọc Thời (xã Nam Xang) cho biết: “Tôi đã có 30 năm gắn bó với nghề làm bánh đa nem. Nghề truyền thống này đã đem đến nguồn thu nhập đáng kể, giúp nâng cao đời sống cho nhiều người dân địa phương. Để nghề ngày càng phát triển, chúng tôi không ngừng cải tiến quy trình sản xuất, đầu tư máy móc hiện đại như: máy xay gạo, máy tráng…, qua đó cung ứng ra thị trường các sản phẩm bảo đảm chất lượng, an toàn cho sức khỏe người tiêu dùng. Thời điểm Tết Nguyên đán cận kề, làng nghề càng trở nên sôi động vì nhu cầu về sản phẩm này gia tăng gấp 3 - 4 lần so với thời điểm khác trong năm. Sản phẩm làm ra đến đâu là tiêu thụ hết đến đấy”.
Riêng xã Vũ Dương hiện có 4 làng nghề đã được UBND tỉnh công nhận là: Làng nghề thủ công mỹ nghệ, đồ mộc chạm trổ, điêu khắc gỗ Trịnh Xá; làng nghề truyền thống đồ mộc Ninh Xá; làng nghề truyền thống đồ gỗ Lũ Phong; làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên với tổng số 2.907 hộ, 33 doanh nghiệp tham gia sản xuất, tạo việc làm cho 8.100 lao động.
Trải qua nhiều thăng trầm lịch sử, người dân địa phương đã không ngừng nỗ lực trong phát triển nghề, nắm bắt xu thế, thị hiếu của người tiêu dùng, đưa các sản phẩm vươn xa trên thị trường.
Các làng nghề trên địa bàn xã Vũ Dương tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương.
Anh Nguyễn Hữu Hướng, chủ cơ sở sản xuất tại làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên (xã Vũ Dương) chia sẻ: Chúng tôi mong muốn kế thừa và phát triển nghề truyền thống của cha ông, vì vậy luôn lấy chất lượng sản phẩm làm tiêu chí hàng đầu để cạnh tranh trên thị trường, đồng thời chú trọng về thiết kế, chế độ bảo hành nhằm nâng cao uy tín. Cùng với đó, thời gian qua, địa phương cũng đã quan tâm quy hoạch và xây dựng hạ tầng giao thông, tạo thuận lợi cho việc giao thương, góp phần thúc đẩy làng nghề phát triển.
Chị Dương Thị Liên, lao động tại làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên (xã Vũ Dương) cho biết: Hiện nay, mặc dù nghề gỗ đã có nhiều máy móc hỗ trợ, tuy nhiên những người thợ như chúng tôi vẫn giữ các công đoạn thủ công ở những chi tiết quan trọng để tạo điểm nhấn, qua đó nâng cao giá trị cũng như tính thẩm mỹ của sản phẩm.
Bên cạnh sự phong phú, đa dạng của các nghề, làng nghề, tỉnh Ninh Bình còn có nhiều lợi thế khác. Tỉnh nằm trên trục kết nối của vùng Nam đồng bằng sông Hồng với Bắc Trung Bộ, có đầy đủ các tuyến giao thông huyết mạch như cao tốc Bắc - Nam, Quốc lộ 1A, Quốc lộ 10, Quốc lộ 21, đường ven biển, cảng sông, cảng biển. Điều này tạo thuận lợi cho vận chuyển nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường và thu hút khách đến các làng nghề.
Ninh Bình cũng sở hữu nguồn nguyên liệu tự nhiên đặc trưng như: đá vôi trắng và đá xanh phục vụ chế tác đá mỹ nghệ; cói và bèo tây cho các sản phẩm thủ công mỹ nghệ; đất sét cho nghề làm gốm; tre, nứa, gỗ cho các nghề mộc, đan lát; nguồn nông sản phong phú cho chế biến thực phẩm. Đây là lợi thế rõ rệt trong phát triển sản phẩm làng nghề có tính đặc trưng và giá trị gia tăng cao.
Theo thống kê, lực lượng lao động của làng nghề, làng có nghề là 192.753 người, chiếm khoảng 5% tổng dân số toàn tỉnh. Tổng doanh thu hàng năm là 25.393 tỷ đồng, giá trị xuất khẩu khoảng 1.200 tỷ đồng. Sản phẩm làng nghề đa dạng, trong đó có 36 làng nghề tham gia chương trình OCOP, với 48 sản phẩm đạt hạng 3 - 4 sao, một số sản phẩm đang hướng tới 5 sao. Sản phẩm chủ lực như: gỗ La Xuyên, thêu Văn Lâm, cói Kim Sơn, bánh đa nem làng Chều, sinh dược Gia Sinh…
Đối mặt với khó khăn, thách thức
Hiện nay, làng nghề, làng có nghề cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Đó là hạ tầng sản xuất tại nhiều làng nghề xuống cấp, sản xuất trong khu dân cư, thiếu hệ thống thu gom, xử lý nước thải. Mặt bằng sản xuất hạn chế, không đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ theo tiêu chuẩn hiện đại.
Các nghề như: tái chế nhựa, kim loại, chế biến nông sản, mộc… phát sinh lượng lớn rác thải, khí thải, nước thải gây ô nhiễm cục bộ, ảnh hưởng tới đời sống người dân và phát triển bền vững.
Các làng nghề đối mặt với nguy cơ thiếu hụt lao động trẻ.
Và một vấn đề dễ dàng nhận thấy tại các làng nghề, làng có nghề hiện nay là thiếu hụt lao động trẻ, nguy cơ đứt gãy truyền nghề.
Bà Mai Thị Thắm (xã Liên Minh) chia sẻ: “Trước đây, xã có nhiều nghề thủ công như đan cót, đan tre, nứa; làm gối mây; sơn mài. Tuy nhiên, hiện nay lực lượng lao động trẻ chủ yếu đi làm ở các công ty, chỉ còn những người trung tuổi, cao tuổi như chúng tôi tham gia làm nghề. Thu nhập không cao khiến người trẻ không còn mặn mà”.
Ngoài ra, trước tốc độ đô thị hóa, vùng nguyên liệu đang dần bị thu hẹp. Điều này gây khó khăn cho các cơ sở sản xuất của một số ngành nghề, phải phụ thuộc nguồn nguyên liệu nhập từ nơi khác, làm gia tăng chi phí sản xuất cũng như giá thành sản phẩm.
Tìm hướng đi mới
Trước những khó khăn đó, các cơ sở sản xuất tại các làng nghề cũng đã nhanh chóng “chuyển mình”, tìm hướng đi mới phù hợp với nền kinh tế hội nhập.
Nghệ nhân Phạm Văn Vang, Giám đốc Công ty TNHH Bảo tồn và Phát triển Gốm Bồ Bát (xã Đồng Thái) chia sẻ: “Để góp phần giúp làng nghề ngày càng phát triển, chúng tôi đã xây dựng và phát triển thương hiệu gốm Bồ Bát với nhiều sản phẩm khác nhau. Bên cạnh đó, đối với các sản phẩm trang trí, lưu niệm, chúng tôi vẽ thủ công các cảnh đẹp ở Ninh Bình. Qua đó, quảng bá những nét văn hóa đặc sắc của vùng đất Cố đô tới đông đảo du khách trong và ngoài nước. Chúng tôi có nhiều điểm bán hàng, trưng bày sản phẩm tại các khu, điểm du lịch. Phản hồi của khách hàng đối với sản phẩm của chúng tôi cũng rất tốt, lượng tiêu thụ tăng cao”.
Sản phẩm gốm Bồ Bát đa dạng về mẫu mã, giúp nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường.
Ông Phạm Văn Vinh, Giám đốc Doanh nghiệp tư nhân Vĩnh Cửu, làng nghề truyền thống đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên (xã Vũ Dương) cho biết: “Bên cạnh phương thức bán hàng truyền thống, chúng tôi còn giới thiệu và tiêu thụ sản phẩm trên các nền tảng trực tuyến. Qua đó, thị trường tiêu thụ được thuận lợi hơn, tăng doanh thu, lợi nhuận, đồng thời tạo nhiều việc làm hơn nữa cho người dân địa phương”.
Bên cạnh sự sáng tạo, đổi mới của các cơ sở sản xuất, các ngành, các cấp luôn có những cơ chế, chính sách phù hợp để giúp làng nghề, làng có nghề có hướng phát triển, quy hoạch phù hợp, đảm bảo phát triển dài hạn, bền vững, nhất là sản xuất gắn với bảo vệ môi trường.
Ông Trịnh Văn Quang, Phó Trưởng phòng Kinh tế xã Vũ Dương cho biết: “Thời gian qua, địa phương đã phối hợp với các ngành, các cấp, các đơn vị mở lớp tập huấn, mời nghệ nhân về dạy nghề, nâng cao tay nghề cho người lao động; tạo điều kiện về cơ chế, chính sách cho các cơ sở sản xuất... Bên cạnh đó, chúng tôi đẩy mạnh công tác tuyên truyền để thu hút lao động tham gia phát triển nghề truyền thống”.
Công tác dạy nghề, truyền nghề gốm tại xã Đồng Thái luôn được chú trọng.
Bà Đỗ Thị Thu Hương, Phó Chi cục trưởng Chi cục Phát triển Nông thôn cho biết: “Trong năm 2025, Chi cục đã tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng đề án Bảo tồn và phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống gắn với phát triển du lịch giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, xây dựng thương hiệu, mở rộng thị trường, chuyển đổi số, sáng tạo trong sản xuất, kinh doanh và phát triển các sản phẩm làng nghề là những nhiệm vụ quan trọng”.
Sản xuất tại làng nghề, làng có nghề cần những định hướng rõ ràng, phù hợp với từng giai đoạn. Hi vọng rằng, với sự nỗ lực không ngừng của các cơ sở sản xuất trong tỉnh cùng sự quan tâm, hỗ trợ kịp thời của các cấp, các ngành sẽ thúc đẩy làng nghề, làng có nghề phát triển bền vững, tạo ra nhiều giá trị về kinh tế - văn hóa - xã hội hơn nữa trong thời gian tới.
Bài, ảnh: Đinh Huyền