Nội dung cơ bản của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15

Nội dung cơ bản của Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù số 101/2025/QH15
5 giờ trướcBài gốc
Trên cơ sở mục tiêu, quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật, Luật gồm có một số nội dung chủ yếu sau:
a) Về phạm vi điều chỉnh, Điều 1 của Luật quy định nguyên tắc, thẩm quyền, điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước Việt Nam trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
b) Về đối tượng áp dụng, Điều 2 của Luật này áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Việt Nam với nước ngoài.
c) Luật quy định Bộ Công an là Cơ quan trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quy định vai trò, nhiệm vụ của Cơ quan trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, trong đó có trách nhiệm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
d) Luật quy định cụ thể hơn về điều kiện và trình tự, thủ tục áp dụng nguyên tắc có đi có lại trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, trong đó Bộ Công an được giao chủ trì xem xét việc áp dụng nguyên tắc có đi có lại. Đây là quy định mới so với Luật Tương trợ tư pháp năm 2007.
đ) Luật quy định người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó chỉ có quyền rút lại đơn đề nghị được chuyển giao trước khi quyết định tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù hoặc quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của Tòa án nhân dân có thẩm quyền của Việt Nam có hiệu lực. Đây là quy định mới so với Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Chính phủ quy định chi tiết nội dung này.
e) Về chi phí và kinh phí trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Luật quy định kinh phí cho công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù do ngân sách nhà nước đảm bảo theo quy định của pháp luật trong mọi trường hợp (trước đây quy định chi phí chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù do ngân sách nhà nước bảo đảm chỉ trong trường hợp Việt Nam là nước yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù). Luật cũng quy định người đang chấp hành án phạt tù hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể tự nguyện đóng góp, hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần chi phí sinh hoạt, đi lại và các chi phí khác của người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao theo quy định của pháp luật. Đây là quy định mới so với Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Chính phủ quy định chi tiết nội dung này.
g) Về thẩm quyền xem xét tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, Luật quy định Tòa án nhân dân khu vực nơi người được đề nghị chuyển giao có nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam quyết định tiếp nhận. Trường hợp không xác định được nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam của người được đề nghị chuyển giao hoặc người được đề nghị chuyển giao không thường trú tại Việt Nam thì Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hà Nội có thẩm quyền quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam.
Về thẩm quyền xem xét chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài, Luật quy định Tòa án nhân dân khu vực nơi người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù quyết định việc chuyển giao. Trường hợp có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền sẽ xem xét, quyết định.
Điều kiện tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
h) Về điều kiện tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Luật cơ bản kế thừa một số quy định tại Điều 50 của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007 nhưng bỏ điều kiện người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam phải có nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam và thời hạn tù còn lại phải chấp hành ít hơn 06 tháng; cụ thể như sau:
- Người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài có thể được tiếp nhận về Việt Nam để tiếp tục chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Là công dân Việt Nam;
+ Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án ở nước chuyển giao cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật về hình sự của Việt Nam vào thời điểm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;
+ Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm;
+ Bản án, quyết định đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật, không còn thủ tục tố tụng nào đang chờ xử lý;
+ Có sự đồng ý của Việt Nam trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước chuyển giao lập yêu cầu chuyển giao hoặc sự đồng ý của nước chuyển giao trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao;
+ Có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù; trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên, người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp.
- Người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam có thể được chuyển giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành án phạt tù khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Là công dân của nước nhận hoặc là người được phép cư trú không thời hạn ở nước nhận hoặc được nước nhận đồng ý tiếp nhận;
+ Hành vi phạm tội mà người đó bị kết án tại Việt Nam cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật nước nhận vào thời điểm lập yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;
+ Vào thời điểm nhận được yêu cầu chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất là 01 năm; trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này có thể ít hơn 01 năm;
+ Bản án, quyết định đối với người đó đã có hiệu lực pháp luật, không còn thủ tục tố tụng nào đang chờ xử lý;
+ Có sự đồng ý của người đang chấp hành án phạt tù; trường hợp người đang chấp hành án phạt tù là người chưa thành niên, người không có khả năng bày tỏ sự đồng ý với việc chuyển giao vì lý do tuổi tác, tình trạng sức khỏe và trạng thái tinh thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp;
+ Đã thực hiện xong trách nhiệm dân sự trong bản án, hình phạt bổ sung là phạt tiền, tịch thu tài sản và các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật hoặc được nước nhận, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hỗ trợ thực hiện các trách nhiệm pháp lý này hoặc được nước nhận cam kết bảo đảm người đang chấp hành án phạt tù sẽ thực hiện các trách nhiệm pháp lý này sau khi được chuyển giao về nước nhận;
+ Có sự đồng ý của Việt Nam trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền của nước nhận lập yêu cầu chuyển giao hoặc sự đồng ý của nước nhận trong trường hợp Bộ Công an lập yêu cầu chuyển giao.
Bổ sung một số trường hợp từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam
i) Luật bổ sung một số trường hợp từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài.
k) Luật quy định mở rộng đối tượng người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam được chuyển giao cho nước ngoài, bao gồm cả người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại các cơ sở giam giữ do Bộ Quốc phòng quản lý.
Trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù
l) Về trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam và từ Việt Nam cho nước ngoài, Luật kế thừa một số quy định của Luật Tương trợ tư pháp năm 2007. Tuy nhiên, có sự tách biệt giữa trình tự, thủ tục tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam và từ Việt Nam cho nước ngoài; thay vì Hội đồng gồm 03 thẩm phán xem xét, quyết định việc tiếp nhận hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Luật quy định việc xem xét, quyết định tiếp nhận hoặc chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù do 01 Thẩm phán tiến hành; đồng thời, bổ sung quy định thẩm quyền của Thẩm phán xem xét, quyết định chuyển đổi hình phạt tù trong quá trình xem xét tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam và bổ sung trình tự, thủ tục phúc thẩm quyết định tiếp nhận, chuyển giao hoặc từ chối tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Cụ thể như sau:
- Về trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam:
+ Phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam
Phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao do 01 Thẩm phán tiến hành, có sự tham gia của 01 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, có sự tham gia của luật sư, người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao trình bày ý kiến (nếu có).
Trên cơ sở kết quả phiên họp sơ thẩm, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:
i) Quyết định tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và ghi rõ tội danh, thời hạn người được tiếp nhận phải tiếp tục chấp hành án phạt tù tại Việt Nam. Trong trường hợp này, Thẩm phán xem xét, quyết định việc chuyển đổi hình phạt tù (nếu có); việc chuyển đổi hình phạt tù được thực hiện theo quy định tại Điều 25 của Luật này;
ii) Quyết định từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù và nêu rõ lý do.
+ Phiên họp phúc thẩm xem xét quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận
Người được đề nghị chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người đó có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận của Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền ra quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn kháng cáo, thời hạn Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp kháng nghị là 07 ngày, thời hạn Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị là 15 ngày.
Việc kháng cáo phải được Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.
Viện kiểm sát nhân dân phải gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm, người được đề nghị chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người đó trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị.
Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp phúc thẩm để xem xét quyết định tiếp nhận hoặc quyết định từ chối tiếp nhận của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 của Luật này thì thời hạn Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp phúc thẩm là 07 ngày.
- Về trình tự, thủ tục xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù ở Việt Nam cho nước ngoài:
+ Phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài
Phiên họp sơ thẩm xem xét yêu cầu chuyển giao do 01 Thẩm phán tiến hành, có sự tham gia của 01 Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, có sự tham gia của luật sư, người đại diện hợp pháp của người được đề nghị chuyển giao trình bày ý kiến (nếu có).
Trên cơ sở kết quả phiên họp sơ thẩm, Thẩm phán ra một trong các quyết định sau đây:
i) Quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù;
ii) Quyết định từ chối chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và nêu rõ lý do.
+ Phiên họp phúc thẩm xem xét quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao
Người được đề nghị chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người đó có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao của Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền ra quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn kháng cáo, thời hạn Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp kháng nghị là 07 ngày, thời hạn Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh kháng nghị là 15 ngày.
Việc kháng cáo phải được Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và những người có liên quan đến kháng cáo trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo.
Viện kiểm sát nhân dân phải gửi quyết định kháng nghị cho Tòa án cấp sơ thẩm, người được đề nghị chuyển giao hoặc người đại diện hợp pháp của người đó trong thời hạn 02 ngày kể từ ngày ra quyết định kháng nghị.
Tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền phải gửi hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ và kháng cáo, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp phúc thẩm để xem xét quyết định chuyển giao hoặc quyết định từ chối chuyển giao của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu thuộc trường hợp đặc biệt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 32 của Luật này thì thời hạn Tòa án nhân dân cấp tỉnh mở phiên họp phúc thẩm là 07 ngày.
Chuyển đổi hình phạt tù trong trường hợp tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam
m) Về chuyển đổi hình phạt tù trong trường hợp tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, Luật quy định về điều kiện, căn cứ, nguyên tắc chuyển đổi hình phạt tù; đồng thời quy định Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định chi tiết Điều này.
n) Luật quy định Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Luật quy định việc chuyển giao, tiếp nhận các tài liệu liên quan đến chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù giữa Bộ Công an với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Tòa án nhân dân có thẩm quyền có thể được thực hiện trên môi trường điện tử theo quy định của pháp luật. Quy định này nhằm thực hiện chủ trương chuyển đổi số quốc gia và đáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác.
0) Luật quy định cụ thể các trường hợp hủy quyết định tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, quyết định thi hành quyết định tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
p) Về tiếp tục chấp hành án phạt tù tại Việt Nam, Luật quy định việc tiếp tục chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam của người được chuyển giao thực hiện theo quy định của pháp luật Việt Nam.
q) Luật quy định việc bảo lưu thẩm quyền xem xét lại bản án mà Tòa án của Việt Nam đã tuyên đối với người chấp hành án phạt tù tại Việt Nam được chuyển giao cho nước ngoài.
r) Về nội dung quản lý nhà nước và trách nhiệm quản lý nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Luật quy định Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù. Bộ trưởng Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định việc ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù.
s) Luật có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và thay thế Luật TTTP năm 2007 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15. Tuy nhiên, các yêu cầu chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù mà Bộ Công an tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp số 08/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 81/2025/QH15 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật.
Nguồn Chính Phủ : https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/noi-dung-co-ban-cua-luat-chuyen-giao-nguoi-dang-chap-hanh-an-phat-tu-so-101-2025-qh15-119260129162537017.htm