Hóa giải cơ chế “xin - cho” và sự thỏa hiệp “dưới gầm bàn”
Trong hoạt động của bộ máy công quyền, thiếu minh bạch chính là kẽ hở để lợi ích nhóm len lỏi và cài cắm. Bởi vậy, lấy kết quả thực chất làm căn cứ đánh giá và thượng tôn trách nhiệm giải trình chính là những bước đi khởi đầu để nhốt quyền lực vào trong "lồng" cơ chế, pháp luật.
Thực tế cho thấy, hầu hết các đại án kinh tế gây chấn động giai đoạn 2024-2026 có một điểm chung: Sự khuất tất trong khâu công khai thông tin. Nhìn vào vụ án tại Tập đoàn Thuận An, tại sao một doanh nghiệp có thể làm mưa làm gió, trúng thầu hàng loạt dự án hạ tầng giao thông trọng điểm từ Bắc chí Nam? Câu trả lời nằm ở những “khoảng tối” trong hồ sơ mời thầu. Khi các tiêu chí kỹ thuật được thiết kế kín kẽ, chỉ có những “người trong cuộc” mới biết được “mật mã” để trúng thầu, thì sự minh bạch chỉ còn là cái vỏ bọc hình thức. Nếu thông tin về năng lực nhà thầu, định mức đơn giá và quá trình chấm thầu được công khai thực chất để xã hội cùng giám sát, chắc chắn những cái tên như Thuận An không thể dễ dàng thâu tóm nguồn lực quốc gia một cách bất thường đến thế.
Rõ ràng, khi thông tin về dự án, về định mức đơn giá và tiêu chí lựa chọn nhà thầu không minh bạch, không được công khai một cách thực chất, quyền quyết định nằm trong tay một nhóm người, tất yếu dẫn đến sự thỏa hiệp dưới gầm bàn.
Ảnh minh họa: kiemsat.vn
Để “nhốt” quyền lực trong “lồng” cơ chế, pháp luật, giải pháp tiên quyết là số hóa toàn diện công tác quản lý. Khi mọi bước đi của dòng tiền ngân sách, mọi quyết định phê duyệt dự án được lưu vết trên hệ thống dữ liệu, sự can thiệp chủ quan của cán bộ sẽ bị triệt tiêu. “Chiếc lồng” cơ chế lúc này chính là hệ thống quản trị bằng dữ liệu, nơi mà sự công khai hoạt động như một loại “kháng sinh” tự nhiên tiêu diệt vi khuẩn tham nhũng. Minh bạch không chỉ là để dân biết, dân bàn, mà là để quyền lực không bao giờ được phép đứng ngoài sự giám sát của pháp luật và nhân dân. Khi quyền lực được thực thi thông qua các con số minh bạch trên hệ thống số, cán bộ thực thi không thể “tùy nghi di tản” dòng vốn hay bẻ lái chính sách theo ý chí cá nhân.
Một chiếc “lồng cơ chế” hoàn thiện không chỉ để “nhốt” những hành vi sai trái mà còn phải có chức năng giải phóng những năng lượng tích cực. Thực tế hiện nay, một bộ phận cán bộ đang có tâm lý “thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn đứng trước hội đồng xét xử”. Đây là hệ quả của việc quyền lực và trách nhiệm chưa được minh định rõ ràng, khiến ranh giới giữa sáng tạo vì lợi ích chung và vi phạm quy định trở nên mong manh.
Để mọi trách nhiệm được minh định, đồng thời bảo vệ hiệu quả người dám nghĩ, dám làm, “chiếc lồng” cơ chế phải được thiết kế với hai ngăn rõ rệt. Ngăn thứ nhất dành cho những người lợi dụng chức vụ để cài cắm, trục lợi phải bị xử lý bằng kỷ luật thép và pháp luật nghiêm minh. Ngăn thứ hai là hành lang pháp lý an toàn, là “lá chắn” cho những cán bộ dám đột phá vào những việc khó, việc mới mà pháp luật chưa kịp điều chỉnh hoặc còn chồng chéo.
Việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án hạ tầng chiến lược hay việc thí điểm các mô hình kinh tế mới, nếu không có cơ chế bảo vệ bằng văn bản cụ thể, cán bộ sẽ chọn giải pháp an toàn là không làm gì. Vì vậy, kiểm soát quyền lực không có nghĩa là trói buộc sức sáng tạo, mà là minh bạch hóa ranh giới để cán bộ yên tâm cống hiến. Khi trách nhiệm cá nhân được cá thể hóa đến cùng - việc gì cũng phải có người chịu trách nhiệm, thì tình trạng đùn đẩy sẽ chấm dứt, và quyền lực sẽ thực sự trở thành công cụ để phục vụ phát triển chứ không phải để phòng thủ cho sự yếu kém.
Việc kiểm soát quyền lực theo tư duy của Đại hội XIV không phải là thắt chặt một cách máy móc, mà là sự hoàn thiện thể chế để bộ máy vận hành chuyên nghiệp, khoa học. Khi quyền lực được kiểm soát bằng ánh sáng của sự minh bạch và thước đo của kết quả thực chất, văn hóa công vụ liêm chính sẽ tự khắc hình thành. Đó chính là nền tảng bền vững để chúng ta thực hiện thành công mục tiêu “Làm đến cùng”, đưa đất nước vững vàng bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Tại cuộc họp ngày 18-3-2026, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực ở địa phương, cơ sở, gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp; đẩy mạnh công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình, khắc phục tình trạng đùn đẩy, né tránh. Bên cạnh đó, đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số gắn với yêu cầu của phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện các cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành kết nối liên thông để thực hiện các dịch vụ công trên các môi trường điện tử, hạn chế tiếp xúc và hạn chế nhũng nhiễu, tiêu cực đối với người dân và doanh nghiệp.
Mỗi “nút thắt” phải có một “địa chỉ” cụ thể
Phát biểu tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thẳng thắn chỉ rõ: “Không thể để tình trạng nghị quyết thì đúng, tổ chức thực hiện thì yếu, chậm trễ, hiệu quả thấp mà không có ai chịu trách nhiệm cụ thể. Không được phép để sự yếu kém trong tổ chức và con người làm chậm bước tiến của quốc gia”.
Chính bởi vậy, lấy dữ liệu và kết quả làm căn cứ đánh giá chính là bước ngoặt trong tư duy quản trị. Minh bạch trong thời đại số không còn là việc dán tờ giấy thông báo ở trụ sở, mà là việc công khai quy trình hành chính lên môi trường số.
Ảnh minh họa: baochinhphu.vn
Tại nhiều địa phương, việc công khai bản đồ quy hoạch và giá đất lên ứng dụng di động đã góp phần triệt tiêu tình trạng “cò đất” cấu kết với cán bộ để trục lợi thông tin quy hoạch. Khi người dân chỉ cần một cú chạm để biết mảnh đất đó thuộc quy hoạch gì, giá đền bù ra sao, quyền lực của những “ông vua con” ở cơ sở chuyên ém thông tin để vòi vĩnh đã bị tước bỏ. Đây chính là minh chứng cho việc dùng công nghệ để xây “lồng” cơ chế. Quyền lực lúc này bị nhốt bởi thuật toán và sự giám sát của hàng triệu đôi mắt nhân dân.
Sự công khai, minh bạch còn phải được thể hiện trong việc đánh giá cán bộ. Lâu nay, khâu đánh giá vẫn còn tồn tại tình trạng cảm tính, yêu nên tốt, ghét nên xấu. Để “nhốt” sự cảm tính này, cần minh bạch hóa bộ chỉ số hiệu quả công việc (KPI). Khi kết quả giải ngân đầu tư công của một địa phương được cập nhật, công khai hằng tuần, hằng tháng để nhân dân cùng giám sát, áp lực từ dư luận sẽ buộc người đứng đầu phải “Làm nhiều - Làm đến cùng”.
Tại sao có những đơn vị giải ngân rất thấp nhưng cuối năm vẫn xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ? Đó là sự thiếu minh bạch trong tiêu chí đánh giá. Một chiếc lồng cơ chế sắt đá phải là nơi mà kết quả thực tế không thể bị xuyên tạc bởi các bản báo cáo tô hồng. Khi ánh sáng của sự thật về kết quả thực hiện được phơi bày, những cán bộ “nói hay làm dở” sẽ không còn chỗ để ẩn náu.
Việc đẩy mạnh minh bạch là biểu hiện bản lĩnh của một Đảng cầm quyền liêm chính. Chỉ những ai có ý đồ tư lợi mới sợ ánh sáng của sự minh bạch. Ánh sáng minh bạch chính là thanh bảo kiếm sắc bén để chặt đứt các “vòi bạch tuộc” của lợi ích nhóm đang bám vào bộ máy thực thi. Khi quyền lực được vận hành trong một không gian kín, nơi mọi hành vi đều có thể được soi xét, thì văn hóa công vụ liêm chính sẽ không còn là một khẩu hiệu xa vời. Đó là nền tảng để khơi thông mọi nguồn lực, để mỗi đồng vốn, mỗi mét đất của quốc gia đều được sử dụng vì mục tiêu duy nhất: Thịnh vượng của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
Trong kỷ nguyên mới, minh bạch chính là cam kết chính trị của Đảng đối với nhân dân, là điều kiện tiên quyết để “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế” một cách hiệu quả.
Có những thời điểm, khâu tổ chức thực hiện bị sa lầy vào căn bệnh “cha chung không ai khóc”. Khi một dự án chậm trễ hay một chính sách thất bại, trách nhiệm thường được đổ lỗi cho tập thể, cho khách quan hoặc cho sự chồng chéo của văn bản. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thẳng thắn định danh đây là một loại “điểm nghẽn” về trách nhiệm. Mệnh lệnh của Đảng lúc này là: Mọi trách nhiệm phải được minh định, mọi việc phải có người chịu trách nhiệm đến cùng.
“Chiếc lồng” cơ chế không chỉ là để trừng phạt, mà trước hết là để phân định biên giới trách nhiệm. Minh định trách nhiệm có nghĩa là xác lập một quy trình thực thi mà ở đó, mỗi “nút thắt” đều có một “địa chỉ” cá nhân cụ thể. Không thể có chuyện một hồ sơ đi qua 5-7 sở, ngành rồi cuối cùng mất tích mà không ai chịu trách nhiệm.
Mới đây, Hà Nội triển khai Hệ thống quản trị thực thi nhiệm vụ và đánh giá cán bộ gắn với phương pháp đo lường hiệu suất công việc (OKR/KPI). Đây được xác định không chỉ là ứng dụng công nghệ mà là bước chuyển căn bản trong tư duy quản trị, điều hành và đánh giá cán bộ trên địa bàn thành phố. Theo đánh giá của Ban Tổ chức Thành ủy, việc triển khai hệ thống không đơn thuần là đưa một phần mềm vào phục vụ “kiểm điểm cuối năm”, mà thực chất là thiết kế lại toàn bộ kiến trúc quản trị, điều hành, hỗ trợ và phát triển cán bộ theo hướng minh bạch, đo lường theo thời gian thực.
Điểm đột phá đầu tiên của hệ thống này là chuyển đổi căn bản tư duy từ “kiểm điểm” sang “quản trị hiệu suất”. Mọi công việc đều được lượng hóa thành sản phẩm cụ thể theo nguyên tắc “6 rõ, 1 xuyên suốt”: Rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, rõ quy trình, rõ thời gian, rõ sản phẩm; một việc chỉ giao một đầu mối chủ trì và chịu trách nhiệm đến cùng. Cách làm này chấm dứt tình trạng đánh giá định tính, cảm tính, nể nang.
Rõ ràng, mỗi nhiệm vụ khi giao đều gắn với mã định danh của cán bộ, lãnh đạo phụ trách, kèm theo thời hạn hoàn thành đỏ lửa trên hệ thống. Khi sự chậm trễ hiển hiện bằng con số và tên tuổi cụ thể, tư duy chuyền bóng trách nhiệm tự khắc bị triệt tiêu. Đây chính là cách nhốt sự lười biếng và né tránh vào khuôn khổ kỷ luật.
Tuy nhiên, minh định trách nhiệm không đồng nghĩa với việc tạo ra áp lực khiến cán bộ chùn chân. Thực tế cay đắng những năm qua cho thấy, nhiều cán bộ có năng lực lại chọn giải pháp an toàn vì ranh giới giữa sáng tạo và vi phạm còn quá mờ nhạt. Để khơi thông dòng chảy thực thi, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây chính là “bộ lọc” vững chãi trong chiếc "lồng" cơ chế.
“Bộ lọc” này hoạt động trên nguyên lý: Phân biệt rõ ràng giữa sai phạm do tư lợi, cố ý làm trái với sai sót trong quá trình thí điểm, đột phá vì cái chung. Khi một cán bộ đưa ra phương án đổi mới mang lại hiệu quả thực tế, dù có những sai sót nhỏ do quy định pháp luật chưa kịp cập nhật, họ được bảo vệ bởi “bộ lọc” này. Điều đó không chỉ là sự bao dung, mà là một sự tính toán khoa học: Nếu không có sai sót trong thử nghiệm, sẽ không bao giờ có sự đột phá trong thực tiễn. Việc “nhốt” quyền lực lạm dụng đồng thời với việc “mở” không gian sáng tạo chính là cách nuôi dưỡng một thế hệ cán bộ mới - những người không “lắc đầu” trước khó khăn mà biết “tìm đường” để đi tiếp.
Việc kiểm soát quyền lực theo tinh thần Đại hội XIV mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc: Đó là bảo vệ cán bộ khỏi sự sa ngã và bảo vệ nhiệt huyết khỏi sự thờ ơ. Một bộ máy thực thi liêm chính là bộ máy mà ở đó, người làm đúng được bảo vệ bằng pháp luật, người làm sai bị trừng trị bằng kỷ luật, và người không làm gì bị đào thải bởi cơ chế.
Minh định trách nhiệm và bảo vệ cán bộ dám dấn thân vì lợi ích chung là hai mặt của một đồng xu. Không thể có sự sáng tạo trong nỗi sợ hãi, và cũng không thể có sự liêm chính trong sự mập mờ. “Làm đến cùng” không còn là lời hứa, mà là kết quả tất yếu của một hệ thống vận hành khoa học, nơi quyền lực chỉ có một con đường duy nhất là phụng sự nhân dân và phát triển đất nước.
Chỉ khi cán bộ tin rằng Đảng bảo vệ người dám làm vì dân, thì khí thế của kỷ nguyên vươn mình mới thực sự rực cháy trong từng phòng làm việc, từng công trường và từng nhịp đập của bộ máy công quyền.
(Còn nữa)
HỒNG THẠNH - DUY THÀNH