Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2026 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp; hành chính tư pháp; hôn nhân và gia đình; thi hành án dân sự; phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghị định này có hiệu lực từ 18-5.
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm đó là quy định chủ tịch UBND cấp xã có quyền tước chứng chỉ hành nghề luật sư có thời hạn trong một số trường hợp.
Chủ tịch cấp xã có thẩm quyền xử phạt luật sư
Pháp luật xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) không xác định thẩm quyền theo thân phận nghề nghiệp của người vi phạm mà xác định thẩm quyền theo lĩnh vực quản lý Nhà nước và theo địa bàn nơi hành vi diễn ra.
Nghị định 109 đã xếp hoạt động luật sư vào nhóm bổ trợ tư pháp ngay tại Điều 1, cùng với tư vấn pháp luật, công chứng, chứng thực, giám định tư pháp, đấu giá tài sản, trọng tài thương mại và hòa giải thương mại. Điều 2 của Nghị định này xác định cá nhân, tổ chức hành nghề luật sư là đối tượng áp dụng.
Các luật tại một phiên tòa hình sự
Như vậy, đối tượng điều chỉnh ở đây là hành vi VPHC thuộc lĩnh vực bổ trợ tư pháp. Còn người vi phạm là luật sư chỉ là trường hợp cụ thể trong phạm vi điều chỉnh chung.
Khoản 2 Điều 2 Luật XLVPHC 2012 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) định nghĩa xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi VPHC theo quy định của pháp luật về XPVPHC.
Như vậy, đối tượng của xử phạt là hành vi chứ không phải tư cách cá nhân của người thực hiện hành vi. Do đó, chủ tịch cấp xã có thẩm quyền xử phạt với hành vi VPHC trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp khi người thực hiện hành vi là luật sư.
Luật XLVPHC từ trước đến nay vẫn thiết kế thẩm quyền xử phạt theo hai hướng song song. Một là thẩm quyền theo địa bàn của chủ tịch UBND các cấp. Hai là thẩm quyền theo ngành và lĩnh vực của các cơ quan chuyên môn.
Cụ thể, điểm c Khoản 4 Điều 52 Luật XLVPHC đặt ra cơ chế giải quyết giao thoa thẩm quyền: “Nếu hành vi thuộc thẩm quyền XPVPHC của nhiều người thuộc các ngành khác nhau, thì thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch UBND cấp có thẩm quyền xử phạt nơi xảy ra vi phạm”.
Quy định này cho thấy hạn chế về thẩm quyền xử phạt theo chuyên ngành. Thẩm quyền của chủ tịch UBND không bị loại trừ khỏi bất kỳ lĩnh vực quản lý nhà nước nào kể cả những lĩnh vực mang tính chuyên môn cao.
Nghị định 189/2025 quy định chi tiết về thẩm quyền XPVPHC, đã cụ thể hóa thẩm quyền theo cấp hành chính. Điều 5 của Nghị định này quy định chủ tịch cấp xã có thẩm quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 50% mức tiền phạt tối đa đối với lĩnh vực tương ứng quy định tại Điều 24 Luật XLVPHC.
Chủ tịch cấp xã đồng thời được tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn, được tịch thu tang vật, phương tiện và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo khoản 1 Điều 28 Luật XLVPHC. Tức là áp dụng chung cho mọi lĩnh vực mà chủ tịch cấp xã được trao thẩm quyền chứ không loại trừ bổ trợ tư pháp.
Khoản 3 Điều 4 của Nghị định 109/2026 ấn định mức phạt tiền tối đa đối với cá nhân trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp là 50 triệu đồng. Khoản 1 Điều 84 Nghị định 109/2026 quy định chủ tịch cấp xã quyền phạt tiền đến 25 triệu đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp.
Như vậy, có thể thấy việc chủ tịch cấp xã có quyền phạt tối đa 25 triệu đồng là phù hợp với quy định tại Nghị định 189/2025. Đây là sự thống nhất kỹ thuật giữa văn bản hướng dẫn chung và văn bản chuyên ngành chứ không phải sự mở rộng thẩm quyền tùy tiện.
Với các lẽ trên, lập luận cho rằng chủ tịch cấp xã hoàn toàn không có thẩm quyền xử phạt vi phạm của luật sư là cách hiểu chưa đúng.
Thạc sĩ - Luật sư Hoàng Hà, Đoàn Luật sư TP.HCM
Không chỉ chủ tịch cấp xã có thẩm quyền
Nhưng nói vậy, không đồng nghĩa với việc chủ tịch cấp xã có toàn quyền phạt mọi vi phạm của luật sư. Thẩm quyền này bị giới hạn bởi 3 yếu tố sau.
Một là về khung tiền phạt, Mục 1 Chương II liên quan hoạt động của luật sư trong Nghị định 109/2026 thiết kế khung xử phạt theo nhiều mức khác nhau. Điều 8 quy định các hành vi vi phạm trong hoạt động hành nghề luật sư với tiền phạt từ vài triệu đến 20 triệu đồng đối với phần lớn hành vi. Nhưng những hành vi mang tính nghiêm trọng hơn như cung cấp tài liệu giả, xúi giục khách hàng khai sai sự thật, tiết lộ thông tin vụ việc hay móc nối với người tiến hành tố tụng... có thể bị phạt đến 30 hoặc 40 triệu đồng.
Một số hành vi của tổ chức hành nghề luật sư còn bị phạt đến mức tối đa 50 triệu đồng theo nguyên tắc nhân đôi tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 109/2026. Tất cả những trường hợp vượt qua mức 25 triệu đồng đều nằm ngoài thẩm quyền của chủ tịch cấp xã. Nghĩa là quyền của chủ tịch cấp xã chỉ xử lý được nhóm hành vi ít nghiêm trọng chứ không phải toàn quyền xử lý mọi hành vi.
Thứ hai là về địa bàn quản lý, cả Luật XLVPHC lẫn Nghị định 189/2025 đều quy định thẩm quyền của Chủ tịch UBND trên nền tảng quản lý nhà nước theo địa bàn. Điều này có nghĩa là chủ tịch cấp xã chỉ có thẩm quyền đối với hành vi vi phạm xảy ra trên địa bàn xã mà mình quản lý chứ không có thẩm quyền xử phạt ngoài địa giới hành chính xã đó.
Nhưng trong thực tiễn, một hành vi của luật sư có thể đồng thời liên quan đến nhiều địa bàn hoặc liên quan đến nghĩa vụ bảo mật khách hàng, đạo đức nghề nghiệp, quan hệ tố tụng. Khi đó, dù về nguyên tắc quyền xử phạt của chủ tịch cấp xã không bị loại trừ thì việc xác định người ra quyết định xử phạt vẫn phải dựa vào quy định tại Điều 52 và Điều 53 Luật XLPHC để tìm chủ thể phù hợp nhất trong bối cảnh thẩm quyền song song.
Thứ ba là Nghị định 109 không trao thẩm quyền duy nhất cho Chủ tịch UBND các cấp mà còn trao thẩm quyền cho Giám đốc Sở Tư pháp, Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp và các chức danh chuyên môn liên quan. Đây là dấu hiệu rõ ràng cho thấy sự song song thẩm quyền theo địa bàn và chuyên ngành.
Nếu xem xét Điều 84 Nghị định 109 mà không xét thêm các điều khoản trao quyền cho cơ quan chuyên môn sẽ tạo ra sự hiểu sai về một thẩm quyền tuyệt đối cho chủ tịch cấp xã. Trong khi cấu trúc thực sự của Nghị định 109 là cơ chế nhiều đầu mối cùng tồn tại.
Chủ tịch cấp xã đương nhiên có quyền lập biên bản XPVPHC
Một điểm cũng cần làm rõ thêm, đó là liên quan đến quyền lập biên bản, vì đây là chỗ gây hiểu lầm phổ biến. Có ý kiến cho rằng quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm của luật sư chỉ thuộc về công chức, viên chức Sở Tư pháp. Do đó, vai trò của cấp xã chỉ giới hạn ở bước tiếp nhận hồ sơ. Cách hiểu này không phản ánh đúng cấu trúc của Điều 83 Nghị định 109.
Khoản 1 Điều 83 Nghị định 109 quy định những người có thẩm quyền xử phạt tại các Điều 84 đến Điều 89 cũng có quyền lập biên bản VPHC đối với các hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 109. Chủ tịch cấp xã với tư cách là một trong những chủ thể có thẩm quyền xử phạt theo Điều 84 thì đương nhiên có quyền lập biên bản đối với hành vi vi phạm của luật sư khi hành vi đó thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định 109.
Khoản 3 Điều 83 Nghị định 109 chỉ bổ sung thêm một nhóm chủ thể nữa là công chức, viên chức Sở Tư pháp chứ không loại trừ các chủ thể đã được Khoản 1 trao thẩm quyền. Nghị định 109 quy định nhiều chủ thể cùng có quyền lập biên bản VPHC. Còn việc ai ra quyết định xử phạt cuối cùng vẫn phải tuân theo giới hạn thẩm quyền tại Điều 84 và các quy định của Luật XLVPHC về phân định thẩm quyền.
Trường hợp công chức, viên chức Sở Tư pháp lập biên bản VPHC đối với LS thì sau đó phải xác định người có thẩm quyền xử phạt theo Điều 84 đến Điều 90. Đồng thời đối chiếu Điều 52 và Điều 53 của Luật XLVPHC để chuyển biên bản đến người có thẩm quyền ra quyết định xử phạt. Nếu vụ việc thuộc thẩm quyền của Chủ tịch xã (hành vi xảy ra trên địa bàn, mức phạt dưới 25 triệu) thì Chủ tịch xã ra quyết định. Nếu vượt thẩm quyền thì phải chuyển cho chủ thể có thẩm quyền cao hơn như Giám đốc Sở Tư pháp, Chủ tịch cấp tỉnh.
Thạc sĩ - Luật sư HOÀNG HÀ, Đoàn Luật sư TP.HCM