Yêu cầu “nói đi đôi với làm” mà Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh là một mệnh lệnh quản trị trúng ngay “điểm nghẽn” của thực thi: chúng ta không thiếu nghị quyết, không thiếu chương trình hành động, không thiếu kế hoạch; cái thiếu là kỷ luật thực thi đủ mạnh để biến chữ nghĩa thành kết quả cụ thể, đo được, nhìn thấy được.
Ở nhiều bộ ngành, địa phương, hồ sơ triển khai chất đẩy cặp dày cộp, hội nghị quán triệt nhiều, cam kết không thiếu, nhưng việc vẫn chậm, vướng mắc vẫn dai dẳng và có những chuyện “kinh niên” cứ hứa rồi để đó đến mức người đứng đầu Chính phủ phải đi kiểm tra, đi đốc thúc, đi gỡ từng nút.
Nếu một hệ thống chỉ chạy khi có tiếng còi thúc giục từ trên xuống, thì đó không còn là quản trị bình thường nữa mà dễ quay sang chữa cháy liên miên và không thể là thói quen điều hành của một nhà nước hiện đại.
Trung tâm Phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội triển khai các giải pháp bảo đảm thực hiện 100% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp theo hình thức trực tuyến. Ảnh minh họa
Niềm tin không chỉ đến từ lời nói
Tinh thần “nói và làm” từng được cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh khơi lên sau Đại hội lần thứ VI của Đảng trong bối cảnh chống quan liêu, hình thức, nói nhiều làm ít, bằng cách đánh thẳng vào những việc “cần làm ngay” và buộc cán bộ nhìn vào trách nhiệm trước dân. Nhưng xã hội hôm nay đã khác thời mới mở cửa: nhịp sống nhanh hơn, thông tin minh bạch hơn, kỳ vọng của người dân cao hơn và “độ chịu đựng” với lời hứa thấp hơn.
Mỗi quyết định chính sách, mỗi công vụ tác động sâu và rộng: một thay đổi thiếu ổn định trong giáo dục có thể làm hàng triệu gia đình đảo lộn kế hoạch; một cải cách nửa vời trong y tế có thể khiến nhiều nghìn lượt khám chữa bệnh dồn về tuyến trên; một quy định sơ suất sẽ biến thành gánh nặng cho dân. Vì thế, “nói đi đôi với làm” bây giờ không chỉ là chống hình thức, mà là giữ nhịp vận hành quốc gia trong giai đoạn đòi hỏi hiệu năng, hiệu quả và kết quả thực chất. Nghị quyết là để hành động; hành động phải ra sản phẩm; sản phẩm phải chạm tới đời sống.
Vì sao bệnh “nói nhiều, làm ít” vẫn dai dẳng? Một phần là quán tính của hệ thống quan liêu “xa xưa”: thích phong trào, thích khẩu hiệu, thích báo cáo trau chuốt. Nhưng cái đáng nói hơn là cơ chế vận hành khiến quán tính ấy vẫn “sống được” và đôi khi còn “có lợi”.
Khi “nói hay hơn làm” và thước đo thành tích nghiêng về “đúng hồ sơ” hơn “đúng kết quả”, thì làm theo mẫu biểu sẽ an toàn hơn làm nhanh mà khác lệ; viết kế hoạch sẽ ít rủi ro hơn tháo gỡ vướng mắc; “đúng quy trình” trở thành lá chắn tốt hơn “xong việc”. Khi trách nhiệm bị nhạt nhòa trong phối hợp liên ngành, phần giao nhau rơi vào khoảng trắng: ai cũng có phần đúng của mình, nhưng không ai chịu trách nhiệm cuối cùng cho kết quả chung. Khi nỗi sợ sai biến thành thói quen đùn đẩy và chờ đợi, hệ thống sẽ chọn chờ chỉ đạo thay vì chủ động quyết định.
Giáo dục và y tế “lộ bệnh” nhất vì chạm trực tiếp tới hàng vạn gia đình và hàng triệu người nên chỉ cần nói đúng mà làm hụt là xã hội cảm ngay. Với giáo dục, khoảng cách nằm ở độ ổn định của luật chơi và chất lượng dạy và học chính khóa. Ai cũng nói giảm áp lực, chống học lệch, công bằng; nhưng hễ thi cử, tuyển sinh thay đổi sát kỳ, tín hiệu thiếu nhất quán, xã hội lập tức “phòng vệ”: học thêm, luyện thi. Giảm áp lực bằng lời lại thành tăng áp lực ngoài đời.
Giảm tải THPT công cũng vậy: nói phân luồng là đúng, nhưng nếu lối đi nghề/ngoài công lập chưa đủ chất lượng, chưa đủ lòng tin của xã hội, cơ cấu hệ thống giáo dục, liên thông và cơ hội việc làm chưa rõ, phụ huynh vẫn dồn về “cửa chắc ăn”. Và dạy thêm chỉ dẹp được khi trị gốc “vị thi cử”: Muốn chặn cửa lớp học thêm, biến thái “liên kết” thì hãy tháo vòng kim cô thi cử, nâng chất chính khóa và tăng cung giáo dục chất lượng.
Sang y tế, quá tải bệnh viện là minh họa tương tự: chủ trương củng cố tuyến dưới nói nhiều, nhưng nếu năng lực tuyến dưới và tiện ích chuyển tuyến, hẹn khám, liên thông hồ sơ chưa đủ, người bệnh vẫn “lên cho chắc”. Niềm tin không đến từ lời nói, nó đến từ trải nghiệm cuộc sống.
“Nói và làm” phải được cụ thể hóa như thế nào để thành mệnh lệnh của cuộc sống
TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD&ĐT)
Vậy “nói và làm” phải được cụ thể hóa như thế nào để thành mệnh lệnh của cuộc sống, chứ không dừng ở khẩu hiệu? Trước hết là ổn định chính sách đối với các lĩnh vực tác động trực tiếp đến đời sống như thi cử, tuyển sinh, quyền lợi khám chữa bệnh: đã ban hành thì giữ đủ lâu để xã hội thích nghi; muốn đổi phải có lộ trình, đánh giá tác động, và thời gian chuyển tiếp rõ ràng.
Kế đến là chuyển hẳn sang quản trị theo kết quả: giao việc phải kèm sản phẩm, mốc thời gian, tiêu chí nghiệm thu; chậm phải phân loại nguyên nhân và có hậu quả thực sự, không thể dừng ở “rút kinh nghiệm”.
Thêm vào đó là siết phối hợp liên ngành bằng một cơ chế điều phối rõ “nhạc trưởng”, rõ quyền, rõ trách nhiệm để phần giao nhau không rơi vào vùng trắng. Lãnh đạo nói nhiều làm dở, làm không được nên nghỉ sớm. Điều quan trọng là giảm quan liêu thủ tục theo hướng ít tiền kiểm, tăng mạnh hậu kiểm: ai ký, ai chịu trách nhiệm, nhưng không để “sợ sai” làm tê liệt quyết định.
Và cuối cùng là nâng năng lực đội ngũ, bảo vệ người dám làm đúng: không thể đòi hiệu năng nếu năng lực quản trị, pháp chế, dữ liệu và đo lường vẫn yếu, trong khi người làm nhanh, làm đúng lại bị rủi ro vô lý bủa vây.
Thời cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, “nói và làm” là lời hiệu triệu chống quan liêu và đánh thức tinh thần đổi mới. Hôm nay, “nói và làm” là tiêu chuẩn vận hành của một quốc gia muốn bứt tốc là mệnh lệnh của cuộc sống: ít khẩu hiệu hơn, nhiều kết quả hơn; ít hứa hẹn hơn, nhiều sản phẩm hơn; ít xin - cho hơn, nhiều trách nhiệm hơn. Người dân không cần thêm lời nói bóng bẩy; họ cần thấy việc làm đúng, làm đến nơi đến chốn, có kết quả cụ thể và thụ hưởng được những kết quả ấy.
TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Chuyên nghiệp, Bộ GDĐT