Non Mai-sông Hãn
Non Mai, hay còn gọi là núi Mai Lĩnh (Mai Lĩnh sơn), nằm ở hữu ngạn thuộc thượng nguồn sông Thạch Hãn, trong quần thể Động Trăn, Động Chấn, phía bắc Động Chè, phía nam Động Ché, có độ cao hơn 800m so với mực nước biển. Núi Mai Lĩnh nằm trong Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông, thuộc địa phận xã Mò Ó (cũ), nay là xã Hướng Hiệp. “Núi có hình chóp tròn, hơi nhọn, xuôi dần nhiều hơn theo hướng Tây-Đông. Trên đỉnh có một khoảng đất bằng, hiện chỉ có lau lách và cây bụi” (trích Khảo về Quảng Trị xưa của tác giả Lê Đức Thọ).
Núi Đầu Mâu, ở làng Lệ Kỳ, xã Quảng Ninh - Ảnh: K.S
Đầu tháng 4/2025, Ban Quản lý rừng đặc dụng tỉnh Quảng Trị công bố phát hiện rừng mai cổ có hơn 300 cây với tuổi đời hàng trăm năm, nằm trong khu rừng nguyên sinh thuộc quần thể Non Mai-sông Hãn. Việc tồn tại rừng mai cổ càng làm tăng thêm giá trị, nét độc đáo cho danh thắng này.
Sông Thạch Hãn là con sông lớn nhất ở phía Nam của tỉnh, bắt nguồn từ độ cao 700m của vùng núi thuộc Tây Trường Sơn, có chiều dài khoảng 156km. Cửa Việt là nơi sông Thạch Hãn đổ ra biển. Năm 1836, hình tượng sông Thạch Hãn được khắc trên Thuần đỉnh trong Thế miếu, Đại nội Huế. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Ở địa giới hai huyện Thuận Xương và Hải Lăng. Đầu nguồn ở trong sách La Bút, chảy theo hướng Tây Bắc hơn 40 dặm, đến châu Ái Tử lại chảy 30 dặm, có nước nguồn Viên Kiệu đổ vào…”. Sông Thạch Hãn cùng với Non Mai gần gũi, thân thuộc, dần ăn sâu vào tiềm thức của người dân và trở thành biểu trưng văn hóa vùng đất phía Nam Quảng Trị.
Non Mâu-bể Hạc
Núi Đầu Mâu cao 783m, ở làng Lệ Kỳ, xã Quảng Ninh. Núi có dáng tựa như đỉnh chiếc mũ đầu mâu nên có tên gọi đó. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Ở phía Tây huyện Phong Lộc 22 dặm, thuộc địa phận xã Lệ Kỳ. Núi gò trùng điệp, rừng cây âm u, thế núi hùng vĩ, cao nhọn trông như chiếc mũ đầu mâu, nên gọi tên ấy. Tương truyền bên núi có giếng, trong giếng có con cá dị kỳ, chân núi gối sông Nhật Lệ, có nhiều cua đá”. Năm 1631, chúa Nguyễn Phúc Nguyên giao cho Đào Duy Từ và Nguyễn Hữu Dật trông coi việc xây lũy Trường thành Định Bắc cao 1 trượng 5 thước, dài 3.000 trượng, từ núi Đầu Mâu về đến cửa Nhật Lệ. Phòng tuyến quân sự vững chắc này đã góp phần ngăn chặn sự tấn công của quân Trịnh, giúp các chúa Nguyễn có điều kiện mở mang đất nước về phía Nam.
Nằm không xa dưới chân núi Đầu Mâu về phía Đông là phá Hạc Hải (nghĩa là biển cạn). Phá Hạc Hải là khu đầm phá nước lợ thuộc huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy (cũ), có diện tích hơn 7.000ha. Phá Hạc Hải vừa là hồ điều tiết nước, vừa là nơi cung cấp nguồn thủy sản và là nơi trú ngụ của các loài chim. Hệ sinh thái nước lợ nơi đây đã tạo nên nguồn sản vật phong phú, trở thành nguồn cung cấp thực phẩm dồi dào cho người dân quanh vùng. Thế núi hiên ngang, hùng dũng, xa xa về phía Đông Nam là phá Hạc Hải nên dân gian truyền tụng câu sấm: “Đầu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên, Trường Sa vi bản”. Nghĩa là núi Đầu Mâu như ngòi bút, phá Hạc Hải như nghiên mực, lũy cát dài ở phía Đông như trang giấy trải rộng, tượng trưng cho vùng đất văn vật, có truyền thống hiếu học, khoa cử.
Lèn Bảng-sông Gianh
Lèn Bảng nằm sát dòng sông Gianh, ở xã Tuyên Hóa. Sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Ở phía Tây huyện hơn 70 dặm, thuộc thôn Thanh Thủy, đá núi chồng chất hình vuông như cái bảng, nên gọi tên ấy. Phía Tây gần núi Kim Linh, ở phía Nam đều là núi đá”. Khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, mỗi khi ra khơi, ngư dân đều xem Lèn Bảng như một "ngọn hải đăng" trong đất liền để xác định phương hướng. Xung quanh lèn Bảng truyền lại nhiều giai thoại. Đêm khuya trên lèn, có ánh đèn leo lét, hễ nghe văng vẳng tiếng trẻ học bài là sau đó xuất hiện nhân tài.
Sông Gianh có chiều dài 160km, bắt nguồn từ dãy núi Cô Pi cao 2.017m, từ núi Giăng Màn thuộc sơn hệ Trường Sơn, hợp lưu từ 3 nguồn, Rào Nậy, Rào Nan và nguồn Son tại làng La Hà trước khi đổ ra biển Đông. Với đặc tính lòng sông rộng, đáy sông sâu, lúc thì hiền hòa nhưng khi mùa mưa lũ đến thì dữ dội, nguy hiểm. Sông Gianh gần cửa biển, hai bờ xa cách, sóng gió dữ dội, địa thế hiểm yếu đã hình thành tuyến phòng thủ tự nhiên ngăn cách trong ngoài.
Trong suốt chiều dài lịch sử, sông Gianh từng có các tên gọi như Đại Linh Giang, Linh Giang. Sách Đại Nam nhất thống chí mô tả: “Ở phía Nam huyện Bình Chính ba dặm, phía Bắc thuộc huyện Bình Chính, phía Nam thuộc huyện Bố Trạch, còn gọi là Thanh Hà”. Nước sông quanh năm trong xanh nên mới có tên là Thanh Hà. Thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, sông Gianh là ranh giới chia cắt Đàng Trong, Đàng Ngoài. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), khi đúc Cửu đỉnh hình tượng sông Gianh được khắc vào Chương đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844), nhà vua cho dựng bia đá ở phía bờ nam con sông. Chính sự linh thiêng và huyền bí của của dòng sông Gianh khiến nhiều cộng đồng cư dân quần tụ sinh sống, hình thành nên những xóm làng văn vật, trù phú hai bên sông mà người đời vẫn còn truyền lại câu: “Sơn, Hà, Cảnh, Thổ”.
Núi Phượng-sông Loan
Dãy Hoành Sơn được người dân vùng Roòn gọi là núi Phượng Hoàng. Núi dài trên 50km, chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam; từ phía Tây ra đến biển Đông ở Đèo Ngang. Hoành Sơn xưa kia là biên giới tự nhiên giữa hai nước Đại Việt và Chăm Pa. Hiện nay, trên dãy Hoành Sơn vẫn còn phế tích lũy của Lâm Ấp do vua Phạm Văn xây dựng từ thế kỷ IV. Lũy này có đoạn vắt qua núi rừng tại địa phận xã Phú Trạch. Khi Nguyễn Hoàng cho người đến vấn an Nguyễn Bỉnh Khiêm kế sách dung thân thì được truyền câu sấm “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, nghĩa là Hoành Sơn một dải, có thể dung thân muôn đời. Núi Hoành Sơn cũng được chạm khắc vào Huyền đỉnh trong Cửu đỉnh.Sự hùng vĩ, vẻ đẹp quyến rũ của phong cảnh trên dãy Hoành Sơn đã đi vào tác phẩm của các danh nhân, thi sĩ, tiêu biểu là bài “Qua Đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan…
Sông Roòn được người dân ở khu vực Bắc Quảng Trạch gọi là sông Loan. Dưới thời Bắc thuộc sông này có tên là sông Đồ Lê. Sông có hai chi lưu là sông Thai và sông Càn. Sông Càn, chi lưu chính bắt nguồn từ Thượng Thọ thuộc dãy Hoành Sơn với chiều dài khoảng 30km. Sông Thai bắt nguồn từ các dòng suối từ hang Đá Bạc dưới chân núi Phượng Hoàng. Phần hạ lưu sông Thai chạy theo phía Đông Nam, rồi hợp lưu với sông Thai tại khu vực cầu Thai. Từ đây, sông chảy xuyên qua các xã Phú Trạch, Hòa Trạch rồi đổ ra biển qua cửa Roòn. Sông Loan, núi Phượng đã từng được các thi sĩ xưa mô tả thật quyến rũ: "Loan trường Phượng trữ, giang sơn lệ/ Thỏ tẩu, ô phi nhật nguyệt trường”. Dịch nghĩa: Sông Loan dài, núi Phượng cao, rất tráng lệ/Thỏ chạy, chim bay, ngày đêm dài.
Sông Loan không chỉ cung cấp nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất mà còn mang lại nguồn thủy sản phong phú. Núi Phượng và sông Loan ở đây được ví như một đôi bạn tình gắn bó, tạo nên bức tranh sơn thủy diễm lệ.
Trong 9 ngọn núi lớn, 9 con sông lớn được chạm khắc trên Cửu đỉnh, tỉnh Quảng Trị có 2 ngọn núi là Đầu Mâu và Hoành Sơn, 2 con sông là Thạch Hãn và sông Gianh. Các địa danh này không chỉ gắn với lịch sử triều Nguyễn, mà còn mang dấu ấn lịch sử đặc biệt trong những năm tháng oai hùng và đầy biến động của dân tộc.
Cảnh quan trời đất giao hòa, núi sông hòa quyện làm nên vẻ đẹp kỳ vĩ của quê hương. Kiệt tác sơn kỳ, thủy tú của thiên nhiên tạo nên vùng đất địa linh, cốt cách của từng miền quê. Những cặp núi-sông của thiên tạo, núi Non Mai-sông Hãn, núi Đầu Mâu-phá Hạc Hải, lèn Bảng-sông Gianh, núi Phượng-sông Loan càng tô điểm thêm vẻ đẹp giang sơn, gấm vóc quê hương Quảng Trị.
Kỳ Sơn