Đập ngăn mặn sông Hiếu đưa vào sử dụng phục vụ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp và dân sinh- Ảnh: Đ.T
Cơ cấu ngành nông nghiệp có sự dịch chuyển rõ nét theo hướng nâng cao giá trị, sinh thái xanh, tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao. Toàn tỉnh hiện có hơn 80 dự án phát triển nông nghiệp, trong đó có hơn 10 dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, chế biến nông, lâm, thủy sản...
Trong lĩnh vực trồng trọt đaữu tiên lựa chọn các sản phẩm chủ lực, có lợi thế cạnh tranh để xây dựng thương hiệu, phát triển thị trường, xây dựng và tham gia vào chuỗi giá trị như lúa, dược liệu, hồ tiêu, cà phê, chanh leo... Năng suất, sản lượng và diện tích lúa chất lượng cao, diện tích lúa cánh đồng lớn, sản xuất lúa theo tiêu chuẩn tăng khá so với nhiệm kỳ trước. Sản lượng lương thực bình quân hằng năm ước đạt 29 vạn tấn, cao hơn so với mức bình quân nhiệm kỳ trước 1,5 vạn tấn.
Diện tích lúa chất lượng cao ước đạt trên 41.000 ha, đạt trên 80% diện tích gieo cấy, tăng 2.000 ha so với năm 2020. Diện tích sản xuất lúa cánh đồng lớn ước đạt 11.780 ha, tăng hơn 1.000 ha so với năm 2020. Diện tích cây trồng các loại sản xuất theo tiêu chuẩn đạt hơn 1.626 ha, tăng so với năm 2020 là 692 ha, trong đó diện tích sản xuất hữu cơ: 546,65 ha, sản xuất canh tác tự nhiên: 151,2 ha, sản xuất theo hướng hữu cơ: 529 ha, VietGap: 197,8 ha và sản xuất theo an toàn thực phẩm: 202 ha.
Chăn nuôi được phục hồi và phát triển. Việc ứng dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học về giống, quy trình chăm sóc được đẩy mạnh, góp phần nâng cao chất lượng và giá trị của ngành. Đến nay, tỉ lệ lợn ngoại, lợn lai ngoại chiếm 95% tổng đàn lợn, tổng đàn lợn nuôi tại các trang trại chăn nuôi chiếm 57% tổng đàn lợn, tỉ lệ đàn bò lai Zebu chiếm trên 72% tổng đàn bò, tăng 16,2% so với năm 2020.
Phương thức chăn nuôi đang chuyển dần theo theo hướng trang trại công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và an toàn sinh học. Toàn tỉnh có 699 trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm, tăng 396 trang trại so với năm 2020. Cógần 50 dưạ́n lớn đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi với tổng nguồn vốn cam kết đầu tư hàng ngàn tỉ đồng.
Trong đó một số dự án đã đi vào hoạt động như Dự án trang trại chăn nuôi kết hợp nông nghiệp công nghệ cao trồng dược liệu tại Hướng Linh, Hướng Hóa với quy mô 12.000 con lợn thịt, Trang trại chăn nuôi công nghệ cao khép kín Vĩnh Tú với quy mô 24.000 con lợn thịt, 5.000 con lợn nái.
Nông dân Cam Lộ làm đất để trồng màu - Ảnh: Đ.T
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng được tổchức thực hiện tốt; đã huy động, lồng ghép các nguồn lực để phát triển trồng rừng gỗ lớn có chứng chỉ quản lý rừng bền vững; chuyển đổi cơ cấu giống lâm nghiệp theo hướng sử dụng giống nuôi cấy mô.
Đến nay, Quảng Trị trở thành một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về trồng rừng gắn với chứng chỉ rừng FSC với gần 18.050 ha, tăng hơn 23% so với năm 2020. Diện tích trồng rừng hằng năm đều đạt và vượt kế hoạch đề ra, bình quân trồng mới rừng tập trung đạt hơn 10.130 ha, cao hơn bình quân nhiệm kỳ trước gần 3.000 ha. Tỉ lệ che phủ rừng trên địa bàn toàn tỉnh được duy trì 49% - 50%.
Nuôi trồng thủy sản tiếp tục phát triển về diện tích, sản lượng trên cơ sở đa dạng hóa đối tượng và phương thức nuôi, ứng dụng nuôi tôm công nghệ cao, đầu tư thâm canh. So với năm 2020, sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng gần 9%, diện tích nuôi trồng thủy sản hướng công nghệ cao tăng gấp 2 lần; nhiều mô hình nuôi thủy sản ứng dụng công nghệ mới, công nghệ sinh học được triển khai, nhân rộng và đem lại hiệu quả cao. Sản lượng thủy sản bình quân hằng năm ước đạt 37.000 tấn, tăng gần 7%.
Cơ sở hạ tầng nông nghiêp, nông thôn cũng như diện mạo và đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn không ngừng được cải thiện và nâng cao. Đến năm 2025 tỉ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới dự kiến đạt 75,8%, tỉ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, kiểu mẫu đạt 32% và có thêm 4 huyện đạt chuẩn nông thôn mới.
Để nông nghiệp Quảng Trị không chỉ hoàn thành tốt vai trò là “bệ đỡ” của nền kinh tế mà còn đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế trong giai đoạn mới, nâng cao đời sống người dân, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh cần tập trung thực hiện có hiệu quả các giải pháp sau đây:
Cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng phát triển hàng hóa, áp dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến và nông nghiệp sinh thái, hữu cơ để nâng cao chất lượng sản phẩm; phát triển kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, các mô hình mới, xây dựng các vùng chuyên canh gắn với chỉ dẫn địa lý và thương hiệu sản phẩm.
Phát huy tiềm năng, lợi thế từng tiểu vùng sinh thái để định hình phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới, công nghệ cao về giống, sinh học, kỹ thuật sản xuất và thu hoạch, bảo quản, chế biến và kết nối thị trường tiêu thụ. Mở rộng diện tích các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như sâm Bố Chính, hồ tiêu, cà phê, cao su, lúa chất lượng cao.
Phát triển chăn nuôi theo mô hình trang trại, áp dụng công nghệ cao trong kiểm soát dịch bệnh và nâng cao chất lượng giống. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng bền vững, hiệu quả. Tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi thủy sản. Phát triển rừng trồng, rừng chứng chỉ FSC, thúc đẩy phát triển thị trường tín chỉ các bon.
Khuyến khích phát triển mô hình hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới để nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Khuyến khích doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, liên doanh, liên kết với các hợp tác xã, tạo dựng thương hiệu các sản phẩm OCOP, hình thành các chuỗi liên kết, tiêu thụ sản phẩm.
Mở rộng liên kết với các doanh nghiệp lớn để tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp sạch, hữu cơ để tiếp cận thị trường quốc tế thông qua sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Phát triển kinh tế nông thôn gắn với chương trình nông thôn mới. Tăng cường đầu tư vào hạ tầng nông thôn, đặc biệt là hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng.
Tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về nông nghiệp, nông thôn. Rà soát, ban hành bổ sung, điều chỉnh các cơ chế chính sách để tháo gỡ các điểm nghẽn, tập trung nguồn lực đầu tư đồng bộ cơ sở hạ tầng, thúc đẩy sản xuất hàng hóa quy mô lớn tập trung; nông nghiệp chất lượng cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ; đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong nông nghiệp; tháo gỡ khó khăn về nguồn lực.
Thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ tạo đột phá trong nâng cao năng suất, chất lượng, phát triển kinh tế tuần hoàn, thương mại điện tử, chuyển đổi số, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc. Thực hiện chuyển đổi số toàn diện, hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp, nông thôn kết nối với dữ liệu quốc gia và chuyên ngành.
Đổi mới toàn diện tổ chức sản xuất, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông thôn đáp ứng nhu cầu tái cơ cấu ngành. Từng bước chuyển đổi tư duy, hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có đủ trình độ, kỹ năng nghề, nhất là lực lượng lao động trẻ ở nông thôn nhằm chuyển đổi mạnh mẽ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp.
Với những tiềm năng, thế mạnh về điều kiện tự nhiên, Quảng Trị có nhiều lợi thế để phát triển nền nông nghiệp đa dạng, hiện đại, bền vững và có khả năng cạnh tranh cao. Việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng công nghệ cao, xây dựng chuỗi giá trị và tăng cường liên kết sẽ giúp nền nông nghiệp của tỉnh phát triển mạnh mẽ, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống của người dân.
Lê Văn Úy