Là một trong những cellist hàng đầu của Việt Nam, NSND Ngô Hoàng Quân không chỉ định hình bằng biểu diễn, mà còn bằng tư duy tổ chức, sáng tác và hoạch định chính sách. Con đường của ông đi qua nhiều “tầng” khác nhau của âm nhạc, từ sân khấu, phòng tập, đến thiết chế tổ chức, và ở mỗi tầng, dấu ấn đều khá rõ nét.
Chân dung NSND Ngô Hoàng Quân
Một đời với tiếng đàn cello
Trước hết, nói về tiếng đàn cello của ông, cái cốt lõi làm nên danh xưng nghệ sĩ. Điểm đặc biệt ở Ngô Hoàng Quân không nằm ở sự phô diễn kỹ thuật, mà ở cách ông kiểm soát âm sắc (tone production) và dòng chảy âm nhạc (musical line). Tiếng đàn của ông có độ “đặc” (density) rõ rệt: âm thanh không mỏng, không bay theo kiểu lãng mạn thuần túy, mà có chiều sâu, có lực nén nội tại. Điều này đến từ kỹ thuật của cây vĩ, rất ổn định, cách ông phân bổ trọng lượng tay phải, giữ độ tiếp xúc với dây đàn và kiểm soát tốc độ cây vĩ tạo ra một âm thanh chứa đầy nội dung, vừa ấm, vừa có độ tập trung cao.
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống âm nhạc ở Hà Nội. Ông bắt đầu học Violoncello (gọi tắt là Cello) với cha mình là Phó giáo sư-Nhà giáo nhân dân-nhạc sĩ Ngô Hoàng Dương, sau đó theo học với Giáo sư-NSND Bùi Gia Tường tại Nhạc viện Hà Nội. Ông tốt nghiệp loại ưu bộ môn cello tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam năm 1974. Năm 1976, ông được chọn đi học tại Nhạc viện Tchaikovsky Matxcơva, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư S.Kalijanov, nguyên là trợ giảng của Giáo sư - NSND M.Rostropovitch - “Con khủng long” của thế kỷ XX.
Trước khi đảm nhận chức vụ Giám đốc, từ năm 1982 Ngô Hoàng Quân là nghệ sĩ độc tấu và bè trưởng bè cello của Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam. Ông đã tham gia cuộc thi âm nhạc P.I.Tchaikovsky tại Matxcơva năm 1986 và cuộc thi J.S.Bach tại Leipzig năm 1988. Ông đã biểu diễn ở nhiều thành phố của Nga, Nhật, Trung Quốc, Thái Lan, Macedonia, Hàn Quốc và Đức. Năm 1993, ông được Dàn nhạc giao hưởng Bangkok mời biểu diễn độc tấu tại Thái Lan. Năm 1999, ông tham gia biểu diễn cùng Dàn nhạc giao hưởng Vienna Volksoper (Áo) tại TP.HCM. Năm 2000, ông biểu diễn cùng Dàn nhạc Nagoya.
Năm 2001, ông được bổ nhiệm làm Phó giám đốc Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam và từ năm 2003 đến năm 2011, ông đảm nhiệm vai trò Giám đốc. Từ cuối năm 2011-2016, ông là Phó cục trưởng Cục Nghệ thuật Biểu diễn (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).
Ông từng là Giám đốc Điều hành Liên hoan Âm nhạc Vietnam Connection.
Những tác phẩm âm nhạc Ngô Hoàng Quân biểu diễn gây dấu ấn sâu đậm trong giới chuyên môn và người hâm mộ gồm: P. Tchaikovsky - Variations on a Rococo Thema;
A. Dvořák - Concerto cung Si thứ; J. Haydn - Concerto số 1 cung Đô trưởng; J. Haydn - Concerto số 2 cung Rê trưởng; C. Saint-Saëns - Concerto số 1 cung La thứ; E. Elgar - Concerto cung Mi thứ; R. Schumann - Concerto cung La thứ; L.v Beethoven - Triple Concerto (phần solo Cello); J. Brahms - Double Concerto (phần solo Cello).
.... Đây là kịch mục những tác phẩm âm nhạc kinh điển, nổi tiếng trong kho tàng âm nhạc cổ điển thế giới viết cho đàn Cello, mà NSND Ngô Hoàng Quân đã giới thiệu và biểu diễn tới khán giả Việt Nam.
NSND Ngô Hoàng Quân là người góp phần đổi mới nhạc giao hưởng Việt Nam.
Ngô Hoàng Quân đặc biệt ở chỗ, ông xử lý câu nhạc mang tính “ngôn ngữ” rõ rệt. Ở nhiều cellist, câu nhạc được hát lên như một dòng cảm xúc; còn với Ngô Hoàng Quân, nó gần với diễn ngôn: có ngữ pháp, có dấu câu, có điểm nhấn logic. Điều này khiến phần trình diễn của ông không chỉ giàu cảm xúc mà còn có cấu trúc, đặc biệt hiệu quả khi chơi những tác phẩm có tính tự sự hoặc chiều sâu nội tâm.
Ngoài những tác phẩm kinh điển cho cello của thế giới, và thực tế gắn bó với Ngô Hoàng Quân là các tác phẩm của nhạc sĩ Việt Nam, và của chính cha mình: Nhạc sĩ- Nhà giáo nhân dân Ngô Hoàng Dương. Với vai trò vừa là nghệ sĩ biểu diễn, vừa là nhà quản lý, ông đã tham gia trình diễn và quảng bá các concerto hoặc tác phẩm cho cello và dàn nhạc của các tác giả trong nước. Đây là đóng góp mang tính “hệ sinh thái”: hông chỉ chơi các tác phẩm quốc tế, mà còn giúp xây dựng một “hồ sơ tác phẩm” cello của Việt Nam.
Tuy nhiên, với một nghệ sĩ như Ngô Hoàng Quân, câu hỏi không chỉ là “đã chơi những bản concerto nào”, mà là “ông chọn chúng như thế nào”. Cách ông xây dựng chương trình thường thiên về cân bằng giữa kinh điển và đương đại, giữa quốc tế và Việt Nam, phản ánh đúng tư duy của một người vừa biểu diễn, vừa tổ chức đời sống âm nhạc.
Người góp phần đổi mới nhạc giao hưởng Việt Nam
Ở vị trí giám đốc, Ngô Hoàng Quân không nhìn dàn nhạc như một “cơ quan biểu diễn”, mà như một cơ thể nghệ thuật cần được nuôi dưỡng toàn diện, từ con người, công cụ, đến môi trường hoạt động. Vì thế, những thay đổi hoạt động trong dàn nhạc của ông có tính nền tảng.
Nếu nhìn lại toàn bộ giai đoạn đó, có thể thấy ông đã góp phần dịch chuyển Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam từ trạng thái “tồn tại” sang trạng thái “vận hành có chiến lược”. Và chính sự dịch chuyển đó là tiền đề để dàn nhạc tiếp tục hội nhập và phát triển trong những năm sau.
Trong giai đoạn này, đóng góp của Ngô Hoàng Quân có thể nhìn ở ba phương diện chính.
Thứ nhất, ông góp phần duy trì cân bằng giữa âm nhạc kinh điển châu Âu và âm nhạc đương đại Việt Nam. Đây không phải lựa chọn dễ, bởi áp lực khán giả thường nghiêng về những tên tuổi quen thuộc. Việc đưa các tác phẩm Việt vào chương trình một cách có hệ thống giúp dàn nhạc không chỉ là nơi “tái hiện di sản”, mà còn là không gian sản sinh và thử nghiệm.
Thứ hai là nâng chuẩn biểu diễn tập thể. Với nền tảng là một nghệ sĩ biểu diễn, ông hiểu rất rõ các vấn đề nội tại của dàn nhạc: Độ đồng đều âm sắc, kỷ luật tập thể, khả năng tương tác với Nhạc trưởng. Những điều chỉnh của ông, từ cách tổ chức tập luyện đến yêu cầu về chi tiết, góp phần cải thiện độ “kết dính” của dàn nhạc, thứ không dễ đo đếm nhưng lại quyết định chất lượng tổng thể.
Thứ ba là mở rộng giao lưu quốc tế. Trong bối cảnh âm nhạc cổ điển Việt Nam cần hội nhập sâu hơn, việc tăng cường hợp tác với các nghệ sĩ và chỉ huy nước ngoài là bước đi chiến lược. Vai trò của ông ở đây không chỉ là quản lý, mà là người “phiên dịch” giữa các hệ tiêu chuẩn khác nhau.
Giai đoạn Ngô Hoàng Quân giữ cương vị Giám đốc Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam (2003-2011) có thể xem là một thời kỳ chuyển động rõ rệt của dàn nhạc, từ một thiết chế còn mang nặng tính bao cấp sang một mô hình hoạt động chuyên nghiệp, và mang tính quốc tế hơn.
Điều đáng nói là những chuyển động này không diễn ra ở bề mặt, mà đi vào chiều sâu, trong cấu trúc vận hành.
Trước hết là việc thay đổi thói quen thưởng thức bằng mô hình hòa nhạc đặt vé trước. Trong bối cảnh công chúng giao hưởng Việt Nam khi đó còn khá mỏng, đây là một bước đi mang tính “thị trường hóa” thận trọng nhưng cần thiết. Nó buộc dàn nhạc phải nghĩ đến khán giả như một đối tượng thực sự - không chỉ là người nghe, mà là người lựa chọn. Từ đó, chất lượng chương trình, cấu trúc chương trình, kịch mục (repertoire) và cả cách truyền thông cũng phải thay đổi.
Cùng với đó là việc gia tăng tần suất biểu diễn trong năm. Nếu trước đây, các chương trình còn mang tính sự kiện rời rạc, thì dưới thời Ngô Hoàng Quân, dàn nhạc dần hướng tới một nhịp điệu hoạt động ổn định hơn - gần với mô hình “mùa diễn” (“season”) của các dàn nhạc quốc tế. Điều này không chỉ giúp giữ phong độ cho nghệ sĩ, mà còn tạo thói quen thưởng thức liên tục cho công chúng.
Ở cấp độ tổ chức, ông chú trọng nâng cấp điều kiện vật chất và đời sống dàn nhạc. Việc vận động tài trợ quốc tế để nâng cấp nhạc cụ với quy mô lớn là một bước đi mang tính chiến lược, giúp cải thiện trực tiếp chất lượng âm thanh của cả nhóm hòa tấu (Ensemble). Đồng thời, ông cũng quan tâm đến đời sống nghệ sĩ - một yếu tố thường bị xem nhẹ nhưng lại quyết định sự ổn định lâu dài của dàn nhạc.
Một hướng đi quan trọng khác là mở rộng hoạt động biểu diễn quốc tế. Dưới thời ông, dàn nhạc không còn chỉ là một thiết chế trong nước, mà bắt đầu tham gia nhiều hơn vào không gian khu vực, từng bước xây dựng hình ảnh và uy tín. Thực tế, Dàn nhạc Giao hưởng Việt Nam đã có các chuyến lưu diễn tại nhiều quốc gia châu Á (Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Nhật Bản), sau này là châu Âu (Nga, Mỹ, Ý), qua đó định vị mình như một đại diện của đời sống giao hưởng Việt Nam trong và ngoài khu vực.
Từ nghệ sĩ biểu diễn đến nhà quản lý âm nhạc
Khi đảm nhiệm vị trí Phó cục trưởng Cục Nghệ thuật Biểu diễn, Ngô Hoàng Quân tiếp tục chuyển dịch từ thực hành sang chính sách. Đây là một bước chuyển không dễ với bất kỳ nghệ sĩ nào, bởi nó đòi hỏi tư duy hệ thống và khả năng cân bằng nhiều lợi ích. Sự hiện diện của một người xuất thân biểu diễn trong bộ máy quản lý giúp tiếng nói của nghệ sĩ có thêm trọng lượng trong việc xây dựng cơ chế, từ cấp phép, tổ chức biểu diễn đến định hướng phát triển.
Nhưng, NSND Ngô Hoàng Quân không dừng lại khi đạt tới đỉnh cao của vị trí nghệ sĩ biểu diễn. Ông dấn bước vào hoạt động sáng tác - lĩnh vực không phải nghệ sĩ biểu diễn nào cũng theo đuổi đến nơi đến chốn. Năm 2024, vào ngày Quốc khánh 2/9 bản Bèo dạt mây trôi phiên bản chuyển soạn cho Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam được Dàn nhạc ROCO biểu diễn tại Houston - Mỹ.
Năm 2025, ông nhận Giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam, cho tác phẩm Chủ đề và biến tấu Tự hào Việt Nam quê hương tôi viết cho Violoncello và dàn nhạc giao hưởng, đồng thời được vinh danh ở cấp khu vực với Giải thưởng ASEAN về âm nhạc cho chính tác phẩm đó. Điều này cho thấy ông không chỉ hiểu cello như một nhạc cụ biểu diễn, mà còn như một “ngôn ngữ” để sáng tạo.
Các sáng tác cho cello của Ngô Hoàng Quân thường khai thác triệt để chất liệu dân gian truyền thống, khả năng biểu cảm của nhạc cụ: trải dài từ những âm vực trầm mang tính suy tưởng đến những đoạn cao trào ở âm vực cao giàu kịch tính. Có thể nhận ra ở đó một tư duy rất “người chơi cello”, viết từ bên trong nhạc cụ, chứ không áp đặt từ bên ngoài.
Có thể nói NSND Ngô Hoàng Quân là một nghệ sĩ đa diện, là người biểu diễn (performer), người lãnh đạo quản lý (leader), người hoạch định chính sách (policymaker) và nghệ sĩ sáng tác (composer). Nhưng nếu phải tìm một sợi chỉ xuyên suốt, thì đó là cách ông luôn tiếp cận âm nhạc như một cấu trúc có chiều sâu: dù là một câu nhạc cello, một chương trình của dàn nhạc, hay một chính sách quản lý, tất cả đều cần được tổ chức, cân bằng và hướng tới giá trị lâu dài.
Và có lẽ chính vì thế, tiếng đàn của ông - dù ở sân khấu hay trong ký ức người nghe - luôn mang cảm giác “có nền”, không dễ tan, như một lớp âm thanh được xây dựng kỹ lưỡng qua nhiều tầng trải nghiệm.
Tôi thân với vợ chồng Ngô Hoàng Quân - Trần Thị Mơ từ hơn 40 năm về trước. Cả hai đều là NSND, được phong cùng một đợt. Đều là nghệ sĩ độc tấu (soloist), đều là nghệ sĩ cellist hàng đầu của Việt Nam. Họ sống bên nhau với sự tôn trọng về tài năng của nhau và phong cách sống chu đáo tận tình với nhau và với gia đình đôi bên.
Họ là những người ưa sự hào phóng, cư xử rất hào sảng. Bạn bè nể trọng không chỉ ở tài năng mà còn là cách ứng xử giàu nhân nghĩa. Chỉ nghe Ngô Hoàng Quân biểu diễn, các bạn sẽ thấy những điều tôi nói…
Trần Thị Trường
Trần Thị Trường