Nữ giáo sư được Giải Kovalevskaia 2025: Quan trọng nhất là giữ được sự say mê và kiên trì

Nữ giáo sư được Giải Kovalevskaia 2025: Quan trọng nhất là giữ được sự say mê và kiên trì
5 giờ trướcBài gốc
Lĩnh vực kỹ thuật môi trường tại Việt Nam đối mặt với không ít thách thức: Ô nhiễm gia tăng, áp lực phát triển hạ tầng, yêu cầu chuyển đổi xanh và thích ứng biến đổi khí hậu.
GS.TS Trần Thị Việt Nga đã kiên trì theo đuổi các hướng nghiên cứu có tính ứng dụng cao, được kiểm chứng bằng hiệu quả triển khai trong đời sống. Phóng viên Báo Xây dựng đã trao đổi với bà về những đóng góp chuyên môn, định hướng nghiên cứu trong thời gian tới.
Thủ tướng Phạm Minh Chính trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 cho cá nhân GS.TS Trần Thị Việt Nga.
Việc được tặng thưởng Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 có ý nghĩa như thế nào đối với hành trình gần 30 năm nghiên cứu trong lĩnh vực cấp thoát nước và kỹ thuật môi trường đô thị của bà?
GS.TS Trần Thị Việt Nga: Đối với tôi, việc được trao Giải thưởng Kovalevskaia năm 2025 là một vinh dự rất lớn. Giải thưởng không chỉ ghi nhận những nỗ lực nghiên cứu của cá nhân tôi mà còn là sự động viên đối với các đồng nghiệp, các nhóm nghiên cứu và các thế hệ học trò đã cùng tôi theo đuổi lĩnh vực kỹ thuật hạ tầng và môi trường trong suốt nhiều năm qua.
Tôi có cơ hội được đào tạo và nghiên cứu tại nhiều môi trường quốc tế, trong đó có Đại học Tokyo, nơi tôi tiếp cận những hướng nghiên cứu tiên tiến về kỹ thuật môi trường đô thị.
Khi trở về Việt Nam công tác, tôi luôn trăn trở làm thế nào để những tri thức và kinh nghiệm đó được vận dụng hiệu quả trong điều kiện thực tế của đất nước.
Vì vậy, xuyên suốt quá trình nghiên cứu, tôi lựa chọn hướng đi gắn chặt với nhu cầu phát triển hạ tầng môi trường tại Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực xử lý nước, nước thải và quản lý tài nguyên nước.
Giải thưởng lần này là sự khích lệ để tôi tiếp tục theo đuổi các nghiên cứu có tính ứng dụng cao, đóng góp nhiều hơn cho mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường.
Trong hai hướng nghiên cứu chính phát triển công nghệ xử lý nước, nước thải và quản lý nước, chất thải bền vững, đâu là những kết quả nổi bật tạo ra giá trị thực tiễn cho mục tiêu cấp nước an toàn, tái sử dụng nước thải và thu hồi tài nguyên tại Việt Nam?
GS.TS Trần Thị Việt Nga: Trong nhiều năm qua, nhóm nghiên cứu của chúng tôi tập trung phát triển và cải tiến các công nghệ xử lý nước và nước thải theo hướng nâng cao hiệu quả xử lý, đồng thời phù hợp với điều kiện vận hành và khả năng đầu tư tại Việt Nam.
Một số nghiên cứu đã hướng tới việc ứng dụng các công nghệ màng lọc và các quy trình xử lý tiên tiến để loại bỏ hiệu quả các chất ô nhiễm trong nước, góp phần đảm bảo chất lượng nguồn nước cấp cho sinh hoạt.
Ban lãnh đạo trường Đại học Xây dựng Hà Nội tặng hoa chúc mừng GS.TS Trần Thị Việt Nga.
Một hướng quan trọng khác là thúc đẩy tái sử dụng nước sau xử lý. Trong bối cảnh nguồn nước ngày càng chịu áp lực từ đô thị hóa và biến đổi khí hậu, việc tái sử dụng nước thải sau xử lý cho các mục đích phù hợp như tưới cây, bổ sung nguồn nước hoặc phục vụ một số hoạt động sản xuất là giải pháp cần được nghiên cứu và triển khai rộng rãi hơn.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng theo đuổi cách tiếp cận mới trong quản lý nước và chất thải, coi nước thải không chỉ là đối tượng cần xử lý mà còn là nguồn tài nguyên có thể được thu hồi.
Thông qua các công nghệ phù hợp, có thể thu hồi năng lượng, dinh dưỡng hoặc các nguồn tài nguyên khác từ nước thải. Cách tiếp cận này góp phần xây dựng các hệ thống hạ tầng nước theo hướng tuần hoàn, giảm áp lực lên môi trường và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.
Theo bà, thách thức lớn nhất trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ môi trường hiện nay, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy phát triển bền vững và giảm phát thải là gì? Bà đã tiếp cận, giải quyết những thách thức đó ra sao?
GS.TS Trần Thị Việt Nga: Một trong những thách thức lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và việc triển khai ứng dụng trong thực tế.
Nhiều công nghệ tiên tiến trên thế giới có hiệu quả rất cao trong điều kiện phòng thí nghiệm hoặc tại các quốc gia có hệ thống hạ tầng và nguồn lực tài chính mạnh. Tuy nhiên, khi áp dụng tại Việt Nam, cần điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật và năng lực vận hành.
Triển khai nghiên cứu từ phòng thí nghiệm đến mô hình Pilot hiện trường (tháng 4/2025).
Do đó, trong các đề tài nghiên cứu, chúng tôi luôn chú trọng phát triển các giải pháp công nghệ có tính khả thi, có thể vận hành ổn định với chi phí hợp lý.
Bên cạnh yếu tố công nghệ, việc hoàn thiện cơ chế quản lý, tiêu chuẩn kỹ thuật và nâng cao năng lực vận hành của các đơn vị quản lý hệ thống hạ tầng môi trường cũng đóng vai trò rất quan trọng.
Ngoài ra, hợp tác quốc tế cũng là một hướng đi quan trọng. Thông qua các chương trình hợp tác nghiên cứu với các đối tác nước ngoài, chúng tôi có điều kiện tiếp cận các công nghệ mới, đồng thời trao đổi kinh nghiệm để tìm ra những giải pháp phù hợp hơn cho điều kiện của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu giảm phát thải và phát triển kinh tế xanh.
GS.TS Trần Thị Việt Nga tại phòng thí nghiệm.
Với tư cách là một nữ giáo sư, nhà quản lý khoa học và người truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ sinh viên, bà có thể chia sẻ quan điểm về vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, cũng như thông điệp bà muốn gửi tới các nữ giảng viên, nhà nghiên cứu trẻ?
GS.TS Trần Thị Việt Nga: Theo tôi, phụ nữ hoàn toàn có thể đóng góp quan trọng trong lĩnh vực khoa học - công nghệ nếu có niềm đam mê, sự kiên trì và môi trường làm việc thuận lợi.
Trong thực tế, ngày càng có nhiều nữ nhà khoa học Việt Nam đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Đối với các nữ giảng viên và nhà nghiên cứu trẻ, điều quan trọng nhất là giữ được sự say mê với công việc nghiên cứu và kiên trì theo đuổi con đường mình đã lựa chọn.
Nghiên cứu khoa học là một hành trình dài, đòi hỏi nhiều nỗ lực và sự bền bỉ. Nhưng khi các kết quả nghiên cứu có thể góp phần giải quyết những vấn đề của xã hội, đặc biệt là các vấn đề môi trường và phát triển bền vững, đó sẽ là động lực rất lớn đối với người làm khoa học.
Bên cạnh đó, tôi cũng cho rằng việc xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, tăng cường hợp tác trong và ngoài nước, cũng như tạo môi trường học thuật cởi mở sẽ giúp các nhà khoa học trẻ - trong đó có các nữ nghiên cứu viên - có thêm cơ hội phát huy năng lực và đóng góp nhiều hơn cho khoa học và xã hội.
Cảm ơn bà!
GS.TS Trần Thị Việt Nga hiện là Trưởng khoa Kỹ thuật Môi trường, đồng thời là Viện trưởng Viện Công nghệ cao Việt - Nhật, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội.
Bà là nhà khoa học có nhiều đóng góp trong lĩnh vực kỹ thuật môi trường, đặc biệt là công nghệ xử lý nước, nước thải và quản lý tài nguyên nước theo hướng bền vững.
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, GS.TS Trần Thị Việt Nga đã công bố 76 bài báo khoa học. Trong đó. có 26 bài trên các tạp chí quốc tế uy tín thuộc danh mục SCIE, 7 bài trên tạp chí quốc tế thuộc Scopus, cùng nhiều bài báo khoa học trong nước và kỷ yếu hội thảo quốc tế.
Bà đã chủ trì và tham gia thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu, trong đó có 2 đề tài cấp Nhà nước và 2 đề tài cấp Bộ, tập trung vào các giải pháp công nghệ xử lý nước và nước thải phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Trong lĩnh vực đào tạo, GS.TS Trần Thị Việt Nga đã hướng dẫn 4 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành kỹ thuật môi trường.
Với những đóng góp trong nghiên cứu và đào tạo, bà đã nhận Giải thưởng Môi trường của Hiệp hội Môi trường nước Nhật Bản năm 2015, Bằng khen Nhà giáo tiêu biểu của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2022, cùng nhiều hình thức khen thưởng khác.
Năm 2025, bà là nhà khoa học nữ duy nhất được trao Giải thưởng Kovalevskaia - giải thưởng tôn vinh các nữ nhà khoa học có thành tích xuất sắc trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Tuyết Hạnh
Nguồn Xây Dựng : https://baoxaydung.vn/nu-giao-su-duoc-giai-kovalevskaia-2025-quan-trong-nhat-la-giu-duoc-su-say-me-va-kien-tri-192260307232420746.htm