TS. Đặng Thị Lệ Hằng - Phó trưởng Phòng Công nghệ Vật liệu Y sinh, Viện Công nghệ tiên tiến, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là nhà khoa học nữ duy nhất trở thành 1 trong 19 đề cử Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2025.
Trước đó, nữ tiến sĩ đã nhận Giải thưởng Khoa học Công nghệ Quả Cầu Vàng năm 2025 với 3 bằng độc quyền sáng chế quốc gia, gần 40 công bố khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc danh mục Q1, Q2.
Có nhiều mỹ từ để miêu tả về sự thành công của một nhà khoa học, nhưng với TS. Đặng Thị Lệ Hằng, chị muốn chọn từ “lì lợm” để khái quát về hành trình của mình. Sự lì lợm ấy bắt nguồn từ khi chị cãi lại mẹ, bỏ học ngành Y giữa chừng để theo đuổi ngành Công nghệ sinh học (Trường Đại học Quốc tế, ĐHQG-HCM). “Y sinh là một bầu trời thu nhỏ khiến mình thực sự hứng thú, dù biết sẽ phải bắt đầu lại từ đầu, chấp nhận nhiều rủi ro”, nữ tiến sĩ nói.
TS. Đặng Thị Lệ Hằng là nhà khoa học nữ duy nhất trở thành 1 trong 19 đề cử Gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2025. Trước đó, nữ tiến sĩ đã nhận Giải thưởng Khoa học Công nghệ Quả Cầu Vàng năm 2025 với 3 bằng độc quyền sáng chế quốc gia, gần 40 công bố khoa học trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc danh mục Q1, Q2.
Tốt nghiệp thạc sĩ của trường rồi nhận học bổng nghiên cứu sinh ngành Hóa sinh hữu cơ của Học viện Khoa học và Công nghệ, chị sớm bộc lộ tố chất của một nhà nghiên cứu trẻ. Năm 2017, vừa học, chị vừa bắt đầu phát triển hướng nghiên cứu về vật liệu y sinh tại Phòng Vật liệu Hóa Dược, Viện Khoa học Vật liệu Ứng dụng.
Làm bạn, chơi “đồ hàng” với dụng cụ thí nghiệm mỗi ngày, chị Hằng nhận thấy, đôi khi điều quan trọng không phải là những quyết định lớn lao hay những khoảnh khắc bùng nổ ý tưởng, mà chỉ đơn giản là sự lì lợm theo đuổi một hướng đi đã chọn.
“Phần lớn thời gian trong phòng thí nghiệm vì thế không phải là những phát hiện ngoạn mục, mà là làm đi làm lại. Những lần thử nghiệm lặp lại không chỉ để tối ưu hóa vật liệu, mà còn để đảm bảo quy trình có thể tái lặp, kết quả ổn định và đồng nhất. Khoa học đôi khi không cần quá nhiều sự “quyết đoán”, mà chỉ cần bền bỉ với điều mình tin là có giá trị”, chị Hằng chia sẻ.
Với suy nghĩ bền bỉ với điều mình tin là có giá trị nên nhiều năm nay, dù mẹ vẫn giận chị vì đã không theo nghề Y, nhưng nữ tiến sĩ trẻ luôn bền bỉ tìm cách thuyết phục mẹ từ những thành tích nhỏ nhất.
“Phần lớn thời gian trong phòng thí nghiệm vì thế không phải là những phát hiện ngoạn mục, mà là làm đi làm lại. Những lần thử nghiệm lặp lại không chỉ để tối ưu hóa vật liệu, mà còn để đảm bảo quy trình có thể tái lặp, kết quả ổn định và đồng nhất. Khoa học đôi khi không cần quá nhiều sự “quyết đoán”, mà chỉ cần bền bỉ với điều mình tin là có giá trị”, chị Hằng chia sẻ.
Là một tiến sĩ “quốc nội”, tức được trưởng thành từ nền học thuật trong nước, nữ tiến sĩ trẻ vẫn ghi dấu ấn trên bản đồ học thuật thế giới với cụm công trình độc quyền sáng chế, cùng hàng chục công bố khoa học thuộc danh mục Q1, Q2 với các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực vật liệu y sinh.
Năm 2019, chị Hằng cùng cộng sự bắt đầu ý tưởng nghiên cứu về vật liệu xúc tác sinh học trong phòng thí nghiệm. Sau đó, khi có cơ hội tham quan thực tế, tiếp xúc với doanh nghiệp, chị đã được lắng nghe những trăn trở, trải lòng của doanh nghiệp về khó khăn, rào cản thực tiễn trong quá trình phát triển sản phẩm.
Từ đó, chị đã nhìn ra lỗ hổng nghiên cứu và tìm cách chức năng hóa vật liệu nhằm thay thế enzyme tự nhiên trong quá trình tổng hợp các hợp chất có hoạt tính sinh học.
“Khi một hệ vật liệu hoạt động tốt, những câu hỏi tiếp theo lại xuất hiện, liệu nó có thể dùng cho mục đích khác không, liệu có thể cải tiến thêm để phục vụ các ứng dụng y sinh hay không… Vì vậy, cụm công trình sáng chế này phần lớn công sức nằm ở sự kiên trì làm đi làm lại và từng bước cải thiện hệ vật liệu cho đến khi nó thực sự hoạt động như mong muốn”, chị Hằng chia sẻ.
Trên cơ sở một ý tưởng ban đầu cùng nền tảng vật liệu ấy, nhóm tiếp tục phát triển thêm các ứng dụng khác, từ tổng hợp các hợp chất sinh học cho đến xây dựng vật liệu hydrogel y sinh có thể sử dụng làm băng vết thương hoặc gel hỗ trợ điều trị các khuyết tật xương.
Từ hướng nghiên cứu này, chị đã hình thành cụm 6 sáng chế, trong đó 3 sáng chế đã được cấp bằng độc quyền sáng chế và đang trong quá trình thương mại hóa, 3 sáng chế còn lại đang trong quá trình chờ thẩm định.
Nữ tiến sĩ trẻ nói thêm, việc hình thành cụm sáng chế này không phải là một kế hoạch được vạch sẵn từ đầu mà phát triển rất tự nhiên theo quá trình nghiên cứu. Một hướng nghiên cứu bắt đầu từ phòng thí nghiệm, lớn dần qua từng thử nghiệm, từng lần điều chỉnh nhỏ, và cuối cùng mở ra những ứng dụng mà ban đầu chính người nghiên cứu cũng chưa nghĩ tới.
TS. Đặng Thị Lệ Hằng cùng học giả trong nước và quốc tế.
Theo nữ tiến sĩ trẻ, khoa học có vô vàn câu hỏi lớn cần thời gian, sự kiên trì và cả sự hợp tác của nhiều người để dần dần tìm ra lời giải. Có hướng nghiên cứu kéo dài nhiều năm chưa có kết quả rõ ràng, không có sự chắc chắn tuyệt đối.
Cũng có những giai đoạn người nghiên cứu phải chấp nhận “độ trễ”, hoặc kết quả chưa như kỳ vọng. Nhưng mỗi hướng đi đều giúp nhà nghiên cứu có thêm dữ liệu, kinh nghiệm và đôi khi mở ra những câu hỏi mới.
TS. Đặng Thị Lệ Hằng nhận Giải thưởng Khoa học Công nghệ Quả Cầu Vàng năm 2025.
“Vì vậy, với mình, điều quan trọng không phải là giữ một hướng đi bằng mọi giá, mà là biết khi nào cần điều chỉnh để tiến xa hơn”, chị Hằng chia sẻ.
Nữ tiến sĩ nhìn nhận, trong quá trình làm nghiên cứu, áp lực không chỉ đến từ công bố khoa học hay kinh phí, mà còn đến từ điều kiện thực hiện nghiên cứu. Với chị, một trong những áp lực lớn là vấn đề cơ sở vật chất và các thủ tục liên quan đến việc triển khai nghiên cứu. Việc tiếp cận các trang thiết bị hoặc phòng thí nghiệm ở các đơn vị khác còn vướng những cơ chế, thủ tục khá phức tạp, nên việc phối hợp không thuận lợi.
Bên cạnh đó, việc mua hóa chất và vật tư nghiên cứu đôi khi cũng gặp nhiều khó khăn do các quy định và thủ tục đấu thầu. Điều này khiến các nhóm nghiên cứu khó chủ động trong công việc, thời gian bị kéo dài và chi phí đôi khi cũng tăng lên.
Trong thực tế nghiên cứu, có những vật tư cần rất gấp hoặc chỉ có một số nhà cung cấp chuyên biệt, nên các quy trình hiện tại đôi khi chưa thật sự phù hợp với đặc thù của nghiên cứu khoa học.
“Vì vậy, mình rất mong trong tương lai sẽ có những cơ chế linh hoạt hơn, chẳng hạn như cho phép các nhóm nghiên cứu được chủ động mua sắm trong một số trường hợp và thực hiện giải ngân theo hóa đơn thực tế.
Đồng thời, mình cũng hy vọng có thể xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu, trong đó các trang thiết bị được đầu tư từ ngân sách nhà nước có thể được chia sẻ và sử dụng chung giữa các nhà khoa học thông qua một hệ thống đăng ký minh bạch”, nữ tiến sĩ chia sẻ.
Mặt khác, khi một kết quả nghiên cứu có thể được chuyển hóa thành các ứng dụng thực tế như một công nghệ, một sản phẩm y học hay một giải pháp điều trị, khi đó, nghiên cứu thực sự đi từ phòng thí nghiệm đến bệnh nhân.
Tuy nhiên, quá trình này không hề dễ dàng vì việc thương mại hóa trong lĩnh vực y sinh thường đòi hỏi nhiều nguồn lực, thời gian, cũng như sự hợp tác giữa giới học thuật và khu vực doanh nghiệp.
"Vì vậy, mình hy vọng công trình của mình không chỉ dừng lại ở giá trị học thuật, mà nếu có cơ hội, có thể được phát triển thành những ứng dụng thực tế trong y học. Nếu điều đó xảy ra, mình tin rằng đó sẽ là cách tốt nhất để khoa học đóng góp vào xã hội và mang lại lợi ích thiết thực cho người bệnh”, chị Hằng chia sẻ.
Nội dung: Châu Linh | Đồ họa: Kiều Tú