Nuôi cá lồng bè ở đảo Nam Du: Sinh kế giữa trùng khơi và đòn bẩy từ vốn tín dụng

Nuôi cá lồng bè ở đảo Nam Du: Sinh kế giữa trùng khơi và đòn bẩy từ vốn tín dụng
6 giờ trướcBài gốc
Rời bến tàu Rạch Giá (tỉnh An Giang), sau hơn hai giờ lênh đênh trên biển, trước mắt chúng tôi là quần đảo Nam Du (đặc khu Kiên Hải) dần hiện ra. Tuy nhiên, để đến được những bè cá giữa biển, hành trình vẫn tiếp tục bằng những chuyến tàu nhỏ len lỏi qua các vịnh kín gió, nơi hàng trăm lồng bè đang neo mình trên mặt nước.
Trên một bè cá ngoài khơi, từng xô cá mồi vừa đổ xuống, đàn cá phía dưới đã quẫy nước tranh ăn.
Bám bè giữa biển, được ăn cả, ngã về không
Ở vùng biển này, những lồng bè không chỉ là nơi nuôi cá mà còn là sinh kế của hàng trăm hộ dân, phụ thuộc nhiều vào con nước, thời tiết và cả thị trường. Trong nhịp bám biển ấy, nguồn vốn tín dụng dần trở thành chỗ dựa để người nuôi duy trì sản xuất.
Một góc quần đảo Nam Du, đặc khu Kiên Hải, tỉnh An Giang
Hiện đặc khu Kiên Hải đã có trên 200 hộ nuôi cá lồng bè với gần 1.200 lồng bè, sản lượng trung bình hằng năm đạt khoảng 1.200 tấn.
Ông Nguyễn Phước Hạnh (quê gốc Cái Dầu, An Giang) hiện đang nuôi 7 bè cá bớp tại Kiên Hải. Đến với nghề từ việc học hỏi người thân, ông Hạnh cho biết nuôi cá biển không có công thức cố định. “Nói chung nghề nuôi cá rất nhiều may rủi” - ông nói.
Những lồng bè là sinh kế của hàng trăm hộ dân
Theo ông Hạnh, mỗi bè có diện tích khoảng 11m x 11m, thả từ 6.000 – 7.000 con giống. Tuy nhiên, tỷ lệ hao hụt lớn khiến sản lượng không ổn định. “Như năm nay, tính ra tỉ lệ cá đạt chưa được 30%, do nguồn nước bị xấu” - ông chia sẻ.
Thời gian nuôi cá bớp từ 8 đến 12 tháng, đạt trọng lượng từ 5kg trở lên là có thể xuất bán nhưng thị trường thường biến động mạnh. Ông Hạnh cho biết, giá cá năm nay giảm còn khoảng 170.000 – 180.000 đồng/kg, trong khi những năm trước có thể trên 230.000 đồng/kg. Ngược lại, giá cá mồi tăng từ 11.000 đồng/kg lên 16.000 đồng/kg. “Cá thịt thì sụt giá còn cá mồi thì lại lên giá” - ông nói.
Ông Nguyễn Phước Hạnh, ngư dân nuôi cá ở Nam Du
Những lồng bè nuôi cá bạc tỉ của ông Hạnh
Để có giá tốt hơn, ông chủ động đưa cá ra các chợ đầu mối tại Long Xuyên, Cần Thơ. Theo ông, giá bán tại đây có thể cao hơn từ 5.000 – 7.000 đồng/kg so với bán tại địa phương.
Thu nhập từ nghề nuôi cá vì thế cũng không ổn định. Theo ông Hạnh, nếu thuận lợi, mỗi vụ có thể lãi từ 200 – 300 triệu đồng, còn những năm trúng mùa sẽ còn được giá cao hơn nữa. "Có năm trúng được tiền tỉ nhưng hiếm lắm, như năm nay là làm không công rồi đó” - ông buồn bã nói.
Khi đồng vốn trở thành “phao cứu sinh”
Không xa khu bè của ông Hạnh là mô hình nuôi cá của bà Nguyễn Thị Hoa – người đã có hơn 20 năm lập nghiệp xa quê và 11 năm gắn bó với Nam Du. Hiện bà sở hữu 4 bè nuôi nhiều loại cá giá trị cao như cá bớp, cá mú, cá chuột…
Theo bà Hoa, chi phí nuôi cá rất lớn, riêng tiền thức ăn mỗi ngày đã từ 4 – 5 triệu đồng. Để xoay vòng vốn, bà chia nhỏ các đợt nuôi và thu hoạch. “Cứ đều đặn 2 tháng một lần, tôi lại tuyển chọn từ 150 đến 200 con cá mú, cá chuột đến tuổi xuất bán” - mỗi đợt thu về khoảng 200 triệu đồng, lãi khoảng 100 triệu đồng sau khi trừ chi phí.
Tích góp từ những vụ cá, bà Hoa lo cho bà người con ăn học thành tài, học đại học ra trường có công ăn việc làm, cậu con trai út cũng đang chuẩn bị vào lớp 12.
Theo bà, nghề này cực và không thể lơ là, phải bám bè, theo sát từng đàn cá, thấy dấu hiệu bệnh là xử lý ngay. “Cũng nhờ chịu khó mà gia đình tôi sống được với nghề, có căn nhà ổn định trong đất liền” - bà nói.
Tuy nhiên, bà Hoa cho biết hiện nay chi phí vận chuyển thức ăn từ đất liền ra đảo rất cao, cộng thêm lãi vay khiến lợi nhuận giảm sút. “Tôi chỉ mong có chính sách ưu đãi lãi suất tốt hơn cho ngư dân" - bà bày tỏ.
Trong bối cảnh chi phí đầu vào lớn và biến động, nhiều hộ nuôi cá phải dựa vào vốn vay để duy trì sản xuất.
Ông Nguyễn Phước Hạnh chia sẻ việc thiếu hụt vốn thường xảy ra vào đầu vụ. “Hụt vốn nên tôi phải chạy vay vốn để bổ sung bắt thêm cá giống và có tiền mua cá mồi hằng ngày cho cá ăn. Nuôi cá mà để đứt bữa thiếu mồi là cá bị chai” - ông nói.
Theo ông, việc tiếp cận vốn hiện nay khá thuận lợi, giúp người nuôi chủ động hơn trong sản xuất.
“Có vốn về nhanh mình kịp thời đầu tư sản xuất, thuận lợi cho công việc hơn rất nhiều” - ông chia sẻ và cho biết nếu không có nguồn vốn từ ngân hàng, người dân có thể phải tìm đến các nguồn vay khác với chi phí cao hơn.
Từ những bè cá ở Nam Du có thể thấy câu chuyện nuôi biển gắn chặt với bài toán vốn, nơi tín dụng trở thành điểm tựa giúp người dân duy trì và mở rộng sinh kế.
Với nhiều hộ nuôi cá như ông Hạnh, bài toán vốn luôn là nỗi trăn trở, đặc biệt vào đầu vụ. Bà Hoa cũng được vay vốn từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) trong khoảng 10 năm để phát triển mô hình nuôi cá từ 1 bè lên 4 bè như hiện nay.
Theo bà, thủ tục vay phù hợp với điều kiện của người dân trên đảo, đặc biệt trong bối cảnh việc đi lại còn nhiều khó khăn.
Ông Lâm Quốc Toàn, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Nông dân tỉnh An Giang đánh giá nguồn vốn tín dụng đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Theo ông, đây là đòn bẩy giúp nông dân mạnh dạn đầu tư, chuyển đổi mô hình sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Ông Toàn cho biết, thông qua các tổ vay vốn và sự phối hợp với ngân hàng, đặc biệt là hệ thống ngân hàng như Agribank, quy trình tiếp cận vốn được đơn giản hóa, minh bạch hơn. Đồng thời, nông dân còn được hỗ trợ xây dựng phương án sản xuất và tập huấn kỹ thuật để sử dụng vốn hiệu quả.
Nhờ vào nghề nuôi cá lồng bè giữa biển mà vợ chồng Hoa lo cho 4 người con ăn học thành tài, nhà cửa khang trang ở đất liền
Từ phía ngân hàng, bà Trần Thị Hồng Anh - Phó Giám đốc Agribank Chi nhánh Kiên Giang (tỉnh An Giang) cho biết đơn vị luôn chú trọng phục vụ khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và biển đảo. Hiện chi nhánh có 16 điểm giao dịch, đảm bảo nhu cầu tiếp cận vốn của người dân.
Cán bộ tín dụng thường xuyên bám sát địa bàn, trực tiếp hỗ trợ người dân trong quá trình làm hồ sơ và sử dụng vốn. “Chúng tôi hiểu phía sau mỗi lồng cá, mỗi chuyến biển là sinh kế của cả một gia đình” - bà nói.
Ngoài việc cho vay, ngân hàng cũng phối hợp với các tổ chức địa phương để theo dõi, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, đồng thời có nhiều chính sách linh hoạt khi người dân gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh.
Nguồn vốn tín dụng là bệ đỡ để gia đình bà Hoa tiếp tục tham gia và phát triển nghề nuôi biển
Toàn đặc khu Kiên Hải hiện có hơn 200 hộ nuôi cá với gần 1.200 lồng bè, sản lượng trung bình khoảng 1.200 tấn mỗi năm. Điều kiện tự nhiên với nhiều vịnh kín gió, nước sâu là lợi thế để phát triển nuôi biển. Bên cạnh đó, địa phương cũng đang thu hút các doanh nghiệp đầu tư nuôi cá công nghệ cao, mở ra hướng đi mới cho ngành thủy sản.
Giữa những biến động đó, dòng vốn tín dụng trở thành một phần trong hành trình bám biển của người dân. Tuy không phải yếu tố quyết định duy nhất, nhưng đây là nguồn lực giúp họ duy trì sản xuất, thích ứng với rủi ro và tiếp tục gắn bó với nghề giữa trùng khơi. Và để phát triển bền vững, ngoài vốn, vẫn cần thêm các giải pháp về thị trường, kỹ thuật và chính sách từ các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn phù hợp với đặc thù vùng biển đảo.
HẢI DƯƠNG
Nguồn PLO : https://plo.vn/nuoi-ca-long-be-o-dao-nam-du-sinh-ke-giua-trung-khoi-va-don-bay-tu-von-tin-dung-post910809.html