Việt Nam nuôi cá hồi, cá tầm từ bao giờ?
Năm 2005, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1, nay là Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam đã nhập hai loài cá nước mát và nước lạnh là cá hồi vân (Oncorynchus mykiss) và cá tầm Xiberia (Acipenser baerii) vào nuôi thử nghiệm ở Sapa.
Kết quả rất khả quan. Từ đó, chúng ta đã phát triển được ngành nuôi cá nước mát và nước lạnh (gọi chung là nước lạnh) trong vùng núi trung du phía Bắc, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên.
Nuôi cá tầm tại lòng hồ thủy điện Sơn La.
Hiện nay, nhóm cá hồi nước ngọt gồm: Cá hồi vân (O. Mykiss), cá trắng và 5 loài cá tầm: Cá tầm Nga, cá tầm Xiberia, cá Beluga, cá Sterlet - và con lai Bester (Beluga với Sterlet), con lai Xiberia và Sterlet đang được nuôi phổ biến ở các vùng Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc cũng như Tây Nguyên.
Ước tính sản lượng nhóm cá nước lạnh, nước mát của Việt Nam: Cá hồi đạt 400-500 tấn/năm, cá tầm 4.500-5.000 tấn/năm. Hiện, mức tăng sản lượng nhóm cá này của Việt Nam hằng năm đạt khoảng 10%. Ngoài lượng cá chúng ta đã nuôi được, trung bình mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 2.000-2.500 tấn cá hồi salmon từ Nauy, Australia và khoảng 3.000-3.500 tấn cá tầm, chủ yếu từ Trung Quốc.
Sản lượng cá hồi, cá tầm do Việt Nam nuôi, sản xuất cũng mới chủ yếu phục vụ cho thị trường trong nước, chủ yếu nhà hàng, khách sạn, chứ chưa đủ phục vụ cho người tiêu dùng có thu nhập khá ở các đô thị.
Theo Tiến sĩ Lê Thanh Lựu, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1 - người có công đưa con cá nước lạnh về Việt Nam cho hay: Hiện sản lượng của ngành cá nước lạnh của Việt Nam chỉ mới đáp ứng được 45% nhu cầu trong nước. Chúng ta vẫn còn tiềm năng để nâng cao sản lượng tới 10.000-12.000 tấn trong 5-10 năm tới, đáp ứng cơ bản thị trường nội địa và có thể tham gia vào thị trường xuất khẩu cao cấp. Chúng ta đã đa dạng hóa được loài cá nuôi nước mát và nước lạnh (có 6-7 loài và các dòng cá lai) và đã xác định được công nghệ nuôi phù hợp với thời điểm hiện tại - nuôi trong các hồ, bể các dạng hình khác nhau, nuôi ngoài trời, nước chảy. Năng suất bình quân đạt 15-20kg/m3 nước.
Nuôi cá tầm tại tỉnh Lào Cai.
Những thách thức
Như vậy, cần khẳng định, việc nuôi nhóm cá nước lạnh, nước mát của Việt Nam là hoàn toàn có tiềm năng.
Tuy nhiên, việc nuôi cá hồi, cá tầm ở Việt Nam bên cạnh tiềm năng cũng phải đối mặt hàng loạt thách thức. Thách thức đầu tiên phải kể tới khi Việt Nam muốn phát triển nghề nuôi cá nước lạnh chính là chưa chủ động được nguồn con giống. Hiện, con giống ở Việt Nam vẫn phải nhập khẩu tới 80-85% từ Trung Quốc, Nga, Hungari, Italy. Chủ yếu nhập trứng đã thụ tinh, bằng con đường tiểu ngạch, nên giấy tờ chính ngạch chưa có.
Những thách thức tiếp theo là hệ thống canh tác, nuôi, sản xuất còn đơn sơ, nên năng suất nuôi chưa cao. Cũng chính vì vậy mà sản phẩm của chúng ta chỉ mới chủ yếu là thực phẩm cho các nhà hàng, khách sạn. Cũng do chưa tổ chức chuỗi ngành hàng tốt, nên sức cạnh tranh kém, khó cạnh tranh với cá của Trung Quốc nhập khẩu. Sản phẩm chưa chế biến sâu, nên giá trị hiện nay chủ yếu tiêu thụ chỉ ở mức thực phẩm tươi sống. Chưa có biện pháp để quản lý cá nhập khẩu, nên người tiêu dùng dễ bị lẫn lộn giữa cá nuôi tại Việt Nam và cá nhập khẩu.
Giải pháp để nghề nuôi cá nước lạnh phát triển
Giải pháp đầu tiên là chúng ta cần tiếp tục có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp, viện nghiên cứu đầu tư nghiên cứu và sản xuất giống thương phẩm. Việc viện nghiên cứu và doanh nghiệp liên kết phát triển quy trình nuôi thành thục cá bố mẹ và cho đẻ thành công sẽ là động lực, giúp chúng ta chủ động sản xuất giống cho nuôi thương phẩm, giảm được giá thành cho sản xuất.
Đồng thời, nghiên cứu để đưa công nghệ nuôi mới như công nghệ RAS (công nghệ nuôi trong hệ thống tuần hoàn), công nghệ Aquaponic (công nghệ nuôi đa mức dinh dưỡng - nghĩa là đa loài, đối tượng để mỗi đối tượng sử dụng một loại dinh dưỡng trong hệ thống canh tác). Với hệ thống canh tác mới, đổi mới công nghệ sẽ tăng được giá trị của hệ thống canh tác, giảm thiểu tác động môi trường, giảm thiểu phát thải khí nhà kính. Sản phẩm từ hệ canh tác này có sức cạnh tranh lớn trên thị trường quốc tế và thị trường cao cấp.
Tổ chức chuỗi giá trị đúng nghĩa của nó, trong đó có sự tham gia của tất cả các đối tác kể cả ngân hàng, các viện nghiên cứu, các nhà cung cấp đầu vào, nhà sản xuất hàng hóa (tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp), nhà chế biến xuất khẩu và nhà tiêu dùng trong ngoài nước. Chuỗi được tổ chức với quy chế hoạt động rõ ràng, nhằm chia sẻ lợi ích, thông tin và trách nhiệm minh bạch cho từng đối tác.
Cần có chính sách vay vốn, nâng cao năng lực tổ chức sản xuất, quản lý môi trường cho các thành viên trong chuỗi. Khi chuỗi được tổ chức như vậy, sản phẩm chắc chắn sẽ đủ sức cạnh tranh trên thị trường cao cấp và thị trường quốc tế. Vấn đề cạnh tranh với hàng nhập nội sẽ được giảm bớt, vì sản phẩm của chuỗi có chất lượng cao sẽ được cung cấp cho nhà nhập khẩu, thành viên của chuỗi ở phân khúc thị trường cao cấp.
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, hoàn thiện công nghệ chế biến sâu tạo ra sự đa dạng sản phẩm (thực phẩm, sản phẩm khác phục vụ cho nhiều lợi ích khác của con người), giá tăng giá trị và hiệu quả kinh tế.
Cùng với đó, cần có biện pháp quản lý nhóm cá nước lạnh nhập khẩu từ nước ngoài. Biện pháp này vừa góp phần bảo vệ sản xuất trong nước, vừa góp phần tạo ra sự cạnh tranh minh bạch, sòng phằng, công bằng. Đồng thời, đây cũng là cách để chúng ta bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng về nguồn gốc, xuất xứ sản phẩm.
Chúng ta đã thành công bước đầu trong việc đưa cá nước mát và nước lạnh về nuôi tại Việt Nam. Việc nuôi cá hồi, cá tầm nuôi tại Việt Nam đã khai thác, sử dụng nguồn nước mát, nước lạnh của các vùng miền núi, tạo ra sinh kế mới cho người dân góp phần ổn định kinh tế, bảo vệ rừng cho vùng cao, vùng sâu và vùng xa.
Trong thời gian tới, triển vọng của nghề nuôi cá nước mát và nước lạnh cần bước sang giai đoạn mới, giai đoạn tạo ra hàng hóa có chất lượng để đi vào thị trường Việt Nam và thế giới.
Riêng về xuất khẩu nhóm cá nước lạnh này, theo chia sẻ của Tiến sĩ Lê Thanh Lựu, hiện có những đối tác ở Hàn Quốc, Nhật Bản có nhu cầu nhập khẩu, tiêu thụ khoảng 2.000 tấn/năm. Tuy nhiên, để cá hồi, cá tầm của Việt Nam có thể xuất khẩu sang các thị trường này, cũng đặt các các yêu cầu cao về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Để nghề nuôi cá hồi, cá tầm của Việt Nam phát triển trong thời gian tới, rất cần những chuỗi liên kết được xây dựng về giống, sản xuất, tiêu thụ...
NGUYỄN KIỂM - LÊ THANH LỰU