Trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước triển khai lộ trình mở rộng sử dụng nhiên liệu sinh học nhằm giảm phát thải, đa dạng hóa nguồn năng lượng và giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, câu chuyện về nguồn cung ethanol và vùng nguyên liệu đầu vào đang trở thành yếu tố then chốt quyết định sự phát triển bền vững của ngành.
Thực tế cho thấy, nguyên liệu sản xuất ethanol của Việt Nam hiện chủ yếu đến từ sắn và ngô. Đây là hai loại nông sản chịu nhiều biến động về sản lượng, thời tiết cũng như giá cả thị trường. Vì vậy, việc khôi phục hoạt động của các nhà máy ethanol, đồng thời xây dựng chuỗi liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và nông dân đang được xem là giải pháp quan trọng để đảm bảo an ninh năng lượng cũng như sinh kế cho khu vực nông thôn.
Trước những vấn đề đặt ra, phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam về vai trò của xăng sinh học E10, khả năng đáp ứng nguồn nguyên liệu cũng như định hướng phát triển ngành nhiên liệu sinh học trong thời gian tới.
Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam về vai trò của xăng sinh học E10, khả năng đáp ứng nguồn nguyên liệu cũng như định hướng phát triển ngành nhiên liệu sinh học trong thời gian tới. Ảnh: Quốc Chuyển.
E10 góp phần giảm áp lực nguồn cung xăng dầu
- Trong bối cảnh nguồn cung xăng dầu gặp khó khăn do xung đột Trung Đông như hiện nay thì việc thực hiện lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học E10 với nhiên liệu truyền thống từ ngày 1/6/2026 có thể xem là một trong những giải pháp giảm áp lực cho sự căng thẳng về nguồn cung xăng dầu như thế nào?
Ông Đỗ Văn Tuấn: Hiện nay Việt Nam vẫn phải nhập khẩu khoảng hơn 30% xăng dầu thành phẩm. Hai nhà máy lọc hóa dầu là Nghi Sơn và Bình Sơn đáp ứng được khoảng gần 70% nhu cầu thị trường trong nước. Tuy nhiên, Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn lại nhập khẩu 100% nguồn dầu thô từ Kuwait, còn Nhà máy Lọc dầu Bình Sơn thì tự chủ được khoảng 70% nguồn dầu thô, khoảng 30% còn lại vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Như vậy, nếu xét về mức độ tự chủ nguồn cung năng lượng thì chúng ta mới chỉ đảm bảo được hơn 30%, còn lại khoảng 70% vẫn phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài. Nguồn dầu thô cũng như xăng dầu thành phẩm có thể đến từ nhiều nơi trên thế giới, nhưng trên thực tế vẫn phụ thuộc nhiều vào khu vực Trung Đông. Vì vậy, những bất ổn tại khu vực này có thể ảnh hưởng đáng kể đến tính ổn định của thị trường xăng dầu.
Việc triển khai chương trình xăng sinh học E10 mang nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng một trong những mục tiêu rất quan trọng là góp phần tăng cường tự chủ năng lượng, giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, đồng thời đóng góp vào cân bằng thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ.
Hiện nay, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ rất quan trọng. Việt Nam đang nằm trong nhóm các quốc gia có thặng dư thương mại lớn với Hoa Kỳ, vì vậy, việc đóng góp vào cân bằng thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ là vấn đề được Đảng và Nhà nước rất quan tâm.
Chương trình xăng sinh học E10 có thể tạo ra dư địa để Việt Nam tăng cường nhập khẩu ethanol từ Mỹ. Qua đó, chúng ta vừa có thêm nguồn cung ethanol ổn định để pha chế xăng sinh học, vừa góp phần cân bằng cán cân thương mại giữa hai nước. Đặc biệt, nguồn ethanol nhập khẩu từ Mỹ không phải đi qua các tuyến vận tải có nhiều bất ổn tại khu vực Trung Đông.
Do đó, khi triển khai chương trình xăng sinh học E10, chúng ta có thể giảm bớt áp lực nguồn cung xăng dầu đến từ những khu vực tiềm ẩn nhiều rủi ro địa chính trị. Tôi cho rằng ở thời điểm hiện nay, chương trình xăng sinh học E10 có ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp phần giảm áp lực đối với nguồn cung xăng dầu nói chung.
Theo ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam: "Nếu thực hiện sớm, chương trình xăng sinh học E10 sẽ càng phát huy ý nghĩa trong bối cảnh nguồn cung xăng dầu đang có nhiều sức ép". Ảnh: Quốc Chuyển.
Theo quy định của Thông tư 50, từ ngày 1/6/2026 toàn bộ xăng tiêu thụ trên thị trường Việt Nam phải là xăng sinh học E5 và E10. Tuy nhiên, thông tư này có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Điều đó có nghĩa là về nguyên tắc, các thương nhân đầu mối hoặc thương nhân phân phối nếu có đủ điều kiện về nguồn lực thì hoàn toàn có thể triển khai ngay từ bây giờ. Nếu thực hiện sớm, chương trình xăng sinh học E10 sẽ càng phát huy ý nghĩa trong bối cảnh nguồn cung xăng dầu đang có nhiều sức ép.
Theo tôi được biết, một số doanh nghiệp đầu mối lớn như Petrolimex, PVOIL đã chủ động chuẩn bị nguồn ethanol để đưa xăng E10 ra thị trường từ cuối tháng 3 hoặc đầu tháng 4. Vì vậy, chương trình xăng sinh học E10 càng có ý nghĩa trong bối cảnh thị trường xăng dầu đang căng thẳng hiện nay.
Khôi phục nhà máy ethanol sẽ tạo động lực cho vùng nguyên liệu
Theo ông Đỗ Văn Tuấn - Chủ tịch Hiệp hội Nhiên liệu sinh học Việt Nam: "Khi thị trường xăng sinh học mở rộng, đặc biệt là khi triển khai E10, đây sẽ là cơ hội để các nhà máy này có thể hoạt động trở lại". Ảnh: Báo Công Thương.
- Khi Việt Nam từng bước mở rộng lộ trình phối trộn nhiên liệu sinh học, vấn đề cốt lõi không chỉ là công nghệ hay công suất nhà máy mà còn là sự ổn định của vùng nguyên liệu. Ông nhìn nhận như thế nào về khả năng đáp ứng của các vùng trồng sắn, ngô hiện nay?
Ông Đỗ Văn Tuấn: Việc xây dựng ngành công nghiệp ethanol đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, trong quá trình thiết kế chính sách vẫn còn những điểm chưa thực sự hoàn thiện, dẫn tới việc ngành công nghiệp này chưa hình thành một cách đầy đủ và bền vững. Vì vậy, một số nhà máy ethanol có vốn đầu tư của Nhà nước cũng như tư nhân đã gặp nhiều khó khăn.
Nguyên nhân là bởi ethanol nhiên liệu không phải là sản phẩm có thể tiêu thụ rộng rãi như các sản phẩm khác, ví dụ như rượu có thể dùng trực tiếp. Ethanol nhiên liệu chủ yếu chỉ phục vụ cho việc pha chế xăng sinh học. Nếu thị trường tiêu thụ chưa đủ lớn thì các nhà máy sẽ rất khó duy trì hoạt động sản xuất.
Thực tế, một số nhà máy ethanol thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam như Nhà máy Ethanol Dung Quất hay Nhà máy Tthanol Bình Phước đã phải dừng hoạt động trong nhiều năm. Khi thị trường xăng sinh học mở rộng, đặc biệt là khi triển khai E10, đây sẽ là cơ hội để các nhà máy này có thể hoạt động trở lại.
Tuy nhiên, sự ổn định của các nhà máy ethanol lại phụ thuộc rất nhiều vào sự ổn định của vùng nguyên liệu. Hiện nay, các nhà máy ethanol tại Việt Nam chủ yếu sử dụng sắn làm nguyên liệu. Trong thời gian gần đây, nhiều nhà máy đang cải tiến công nghệ để có thể linh hoạt sử dụng cả sắn và ngô.
Đối với cây sắn, Việt Nam được xem là một trong những quốc gia có sản lượng lớn tại châu Á. Tuy nhiên, thị trường sắn nhiều năm qua vẫn tồn tại tính bất ổn. Khi giá sắn hoặc giá tinh bột sắn tăng cao, người nông dân sẽ mở rộng diện tích trồng. Nhưng khi thị trường khó khăn, đặc biệt là khi Trung Quốc giảm nhập khẩu hoặc thị trường tinh bột gặp khó, nhiều hộ dân lại thu hẹp diện tích hoặc thậm chí không thu hoạch.
Vì vậy, yếu tố quyết định sự ổn định của vùng nguyên liệu chính là đầu ra của sản phẩm. Nếu các nhà máy ethanol có khả năng tiêu thụ sản phẩm sắn của nông dân một cách ổn định, chắc chắn người nông dân sẽ chủ động xây dựng vùng trồng, tăng năng suất và áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất. Khi năng suất cây trồng tăng lên, người nông dân cũng sẽ có nguồn thu nhập ổn định và hiệu quả hơn so với nhiều loại cây trồng khác.
Tôi cho rằng khi các nhà máy ethanol hoạt động ổn định, vùng nguyên liệu trồng sắn sẽ từng bước được hình thành và phát triển. Khi người nông dân có nguồn thu ổn định, họ sẽ duy trì diện tích canh tác và đảm bảo quy mô vùng nguyên liệu lâu dài. Đây chính là yếu tố quan trọng để đảm bảo nguồn nguyên liệu ổn định cho các nhà máy ethanol.
Liên kết chuỗi là giải pháp ổn định nguồn nguyên liệu
Chương trình xăng sinh học E10 càng có ý nghĩa trong bối cảnh thị trường xăng dầu đang căng thẳng hiện nay. Ảnh: Báo Công Thương.
- Một trong những thách thức lớn của ngành nhiên liệu sinh học là sự phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nông sản vốn biến động mạnh theo mùa vụ và thị trường. Theo ông, ngành cần chiến lược dài hạn nào để vừa đảm bảo nguồn cung ổn định cho sản xuất ethanol, vừa hạn chế tình trạng "được mùa rớt giá" đối với nông dân?
Ông Đỗ Văn Tuấn: Ngành ethanol có mối liên hệ rất chặt chẽ với ngành nông nghiệp. Ví dụ như tại Hoa Kỳ - quốc gia sản xuất ngô lớn nhất thế giới, khoảng 70% sản lượng ngô được sử dụng để sản xuất ethanol, và họ đã xây dựng cả một đạo luật về ethanol. Chỉ khoảng 30% sản lượng ngô còn lại mới được dùng cho thức ăn chăn nuôi và các mục đích khác.
Thực tế, bất kỳ ngành kinh tế nào cũng sẽ có những biến động nhất định. Không có ngành nào hoàn toàn ổn định tuyệt đối. Tuy nhiên, nếu một ngành có đầu ra ổn định thì chắc chắn đầu vào cũng sẽ dần ổn định.
Nếu các nhà máy ethanol duy trì việc thu mua nguyên liệu ổn định cho nông dân thì người trồng sắn sẽ duy trì diện tích canh tác và không thu hẹp vùng trồng. Khi đó, năng suất cây sắn sẽ tiếp tục được cải thiện, từ đó đảm bảo nguồn cung nguyên liệu cho các nhà máy ethanol.
Đây chính là công thức quan trọng nhất để đảm bảo sự ổn định của nguồn nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy ethanol, đồng thời cũng là giải pháp hiệu quả để ổn định giá ethanol được sản xuất trong nước.
Nhiên liệu sinh học là nguồn năng lượng tái tạo lâu dài
- Trong bối cảnh thị trường năng lượng toàn cầu có nhiều biến động, đặc biệt là các rủi ro địa chính trị ảnh hưởng đến nguồn cung xăng dầu, ông đánh giá vai trò của nhiên liệu sinh học đối với an ninh năng lượng Việt Nam như thế nào?
Ông Đỗ Văn Tuấn: Bản chất của nhiên liệu sinh học là nhiên liệu tái tạo, nghĩa là nó không bị giới hạn như nhiên liệu hóa thạch. Khi chúng ta trồng thêm một vụ mùa mới thì cũng đồng nghĩa với việc có thêm nguồn nguyên liệu mới để sản xuất ethanol.
Hiện nay, Việt Nam mới chỉ tự chủ được khoảng 30% nguồn ethanol để pha chế xăng E10. Tuy nhiên, khi nhu cầu ethanol tăng lên theo lộ trình pha trộn nhiên liệu sinh học, chắc chắn điều đó sẽ kích thích các nhà đầu tư xây dựng thêm các nhà máy ethanol mới tại Việt Nam.
Đồng thời, nhu cầu thị trường tăng lên cũng sẽ thúc đẩy đầu tư vào các vùng trồng nguyên liệu và tăng cường sự liên kết giữa các nhà đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp với người nông dân, cũng như giữa các nhà máy ethanol với người nông dân.
Khi các mối liên kết này được hình thành và phát triển, Việt Nam sẽ từng bước tự chủ được nguồn cung ethanol một cách bền vững, phục vụ lâu dài cho chương trình phát triển nhiên liệu sinh học của Chính phủ.
- Xin cảm ơn ông!
Phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ là câu chuyện của ngành năng lượng mà còn gắn chặt với tái cơ cấu nông nghiệp, sinh kế của người nông dân và chiến lược an ninh năng lượng quốc gia. Để thực hiện thành công lộ trình mở rộng sử dụng nhiên liệu sinh học, Việt Nam cần đồng thời phát triển vùng nguyên liệu bền vững, xây dựng chuỗi liên kết minh bạch giữa doanh nghiệp - nông dân - địa phương, cùng với các chính sách hỗ trợ phù hợp nhằm khuyến khích đầu tư vào công nghệ và hạ tầng sản xuất ethanol.Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới nhiều biến động, nhiên liệu sinh học được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những trụ cột bổ sung giúp Việt Nam tăng cường khả năng tự chủ năng lượng, thúc đẩy kinh tế xanh và phát triển bền vững trong dài hạn.
Thanh Thảo