Không khí sôi nổi của Ngày hội thể thao tại Công ty TNHH Sumitomo Heavy Industries (Việt Nam). Ảnh: Luyện Đinh
- Thưa ông, dù đời sống văn hóa, tinh thần của công nhân đã được nhận diện đúng và được nhấn mạnh trong nhiều chủ trương, chính sách, nhưng vì sao hiệu quả triển khai trên thực tế vẫn chưa đạt được như kỳ vọng?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn
- Theo tôi, rào cản trong việc nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân lao động ở Hà Nội trước hết không nằm ở chỗ chúng ta chưa nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, mà nằm ở khoảng cách khá lớn giữa nhận thức đúng và tổ chức thực hiện hiệu quả.
Nghị quyết 80-NQ/TW về Phát triển văn hóa Việt Nam đã xác định rõ văn hóa là nền tảng, là nguồn lực nội sinh, là động lực phát triển; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu gắn văn hóa với mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa. Điều đó có nghĩa, chăm lo đời sống văn hóa cho công nhân không thể tiếp tục được xem là phần việc bên lề, làm khi có điều kiện, mà phải được coi là một cấu phần trong chính sách phát triển bền vững của Thủ đô.
Rào cản cốt lõi hiện nay, theo tôi, có ba lớp. Lớp thứ nhất là rào cản về thể chế và quy hoạch. Không ít nơi vẫn xem thiết chế văn hóa cho công nhân là hạng mục “nên có” chứ chưa phải hạ tầng thiết yếu gắn với khu công nghiệp, khu nhà ở công nhân, giao thông công cộng và dịch vụ xã hội. Khi quỹ đất đã được phân bổ gần hết cho sản xuất, thương mại và nhà ở thì văn hóa thường bị đẩy xuống sau cùng.
Lớp thứ hai là rào cản về quỹ thời gian của công nhân. Lao động theo ca kíp khiến nhiều mô hình hoạt động văn hóa được thiết kế theo giờ hành chính trở nên khó tiếp cận. Không phải công nhân không có nhu cầu mà là cách tổ chức chưa đi vào nhịp sống thực của họ. Lớp thứ ba là rào cản về cơ chế huy động nguồn lực. Việc thu hút nguồn lực ngoài ngân sách, đặc biệt từ khu vực doanh nghiệp, vẫn chưa hiệu quả vì nhiều đơn vị còn coi đầu tư cho đời sống văn hóa là khoản chi phụ, trong khi cơ chế ưu đãi, đặt hàng và hợp tác công - tư chưa đủ hấp dẫn và rõ ràng để khuyến khích họ tham gia lâu dài.
- Thưa ông, trong bối cảnh hiện nay, cần bắt đầu từ đâu để các giải pháp không chỉ dừng ở chủ trương mà thực sự đi vào đời sống công nhân?
- Trong bối cảnh Hà Nội có lực lượng đoàn viên đông đảo tại các khu công nghệ cao và khu công nghiệp, bài toán này càng cần được tiếp cận bằng tư duy hệ thống chứ không thể chỉ trông vào các hoạt động phong trào.
Vì vậy, giải pháp cũng phải đi từ gốc. Trước hết, cần tích hợp yêu cầu phát triển đời sống văn hóa công nhân ngay từ khâu quy hoạch khu công nghiệp, khu nhà ở công nhân và thiết chế công đoàn, coi đó là tiêu chí bắt buộc chứ không phải phần bổ sung.
Thứ hai, cần đổi mới cách tổ chức hoạt động theo hướng linh hoạt, “đem văn hóa đến nơi công nhân đang sống và làm việc” thay vì chờ công nhân tìm đến thiết chế. Có thể phát triển các mô hình như thư viện nhỏ trong nhà máy, sân chơi cuối ca, xe văn hóa lưu động, câu lạc bộ cuối tuần hoặc nền tảng số cung cấp nội dung văn hóa ngắn, dễ tiếp cận, phù hợp với quỹ thời gian nghỉ ngơi ít ỏi của người lao động.
Thứ ba, cần có cơ chế đủ mạnh để thu hút doanh nghiệp tham gia: Từ ưu đãi về đất đai, thuế đến hỗ trợ truyền thông thương hiệu, đồng thời đưa trách nhiệm chăm lo đời sống văn hóa công nhân trở thành một tiêu chí trong đánh giá phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Thứ tư, cần trao vai trò lớn hơn cho tổ chức công đoàn, chính quyền cơ sở và các thiết chế văn hóa của Thành phố trong việc đồng thiết kế chương trình cùng chính công nhân, để các hoạt động văn hóa không bị áp đặt từ trên xuống mà thực sự phản ánh đúng nhu cầu thụ hưởng.
- Trong bối cảnh chuyển đổi số, các hoạt động văn hóa cần được tổ chức như thế nào để phù hợp với nhịp sống của công nhân, giúp họ dễ tiếp cận hơn, thưa ông?
- Theo tôi, điều quan trọng nhất là phải thay đổi cách tiếp cận. Công nghiệp văn hóa và văn hóa số không nên được hình dung như những sản phẩm chỉ dành cho thị trường đô thị trung tâm, cho tầng lớp có nhiều thời gian rảnh hay có điều kiện tiêu dùng cao, mà phải được thiết kế như một phần của đời sống thường nhật của người lao động.
Nếu muốn công nhân không “đứng ngoài cuộc”, chúng ta phải đưa sản phẩm văn hóa đến gần nhịp sống của họ. Cần phát triển các nền tảng nội dung số ngắn, dễ tiếp cận, chi phí thấp, có thể sử dụng trên điện thoại trong thời gian nghỉ giữa ca hoặc sau giờ làm; đồng thời mở rộng những mô hình giải trí, giáo dục, thụ hưởng văn hóa có thể diễn ra ngay tại ký túc xá, khu lưu trú, nhà máy, trung tâm sinh hoạt công nhân. Văn hóa số cho công nhân không chỉ là xem nội dung trên mạng, mà còn là học kỹ năng, tiếp cận sách nói, phim ngắn, âm nhạc, triển lãm số, các chương trình tư vấn tâm lý, pháp luật, kỹ năng sống, kỹ năng nuôi dạy con, thậm chí là các khóa bồi dưỡng thẩm mỹ và sáng tạo. Nói cách khác, phải chuyển từ tư duy “mang cái mình có đến cho công nhân” sang tư duy “thiết kế cái công nhân thực sự cần”. Cách làm ấy cũng phù hợp với định hướng của Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa theo Quyết định 2486/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 trong đó nhấn mạnh vai trò của công nghệ, thị trường và khả năng tiếp cận công chúng.
Để thúc đẩy công nghiệp văn hóa và văn hóa số trở thành động lực nâng cao đời sống văn hóa cho công nhân, theo tôi, cần đồng thời có ba nhóm chính sách. Thứ nhất là chính sách tích hợp. Nghĩa là trong quy hoạch khu công nghiệp, khu nhà ở công nhân, phải coi hạ tầng văn hóa số, không gian sáng tạo nhỏ, điểm truy cập tri thức số, thư viện số, khu sinh hoạt cộng đồng là cấu phần thiết yếu, chứ không phải hạng mục phụ. Thứ hai là chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia. Doanh nghiệp đầu tư vào các sản phẩm, dịch vụ văn hóa phục vụ công nhân cần được hưởng ưu đãi phù hợp về thuế, đất đai, truyền thông thương hiệu, hoặc được tính như một phần trách nhiệm xã hội và phát triển bền vững. Thứ ba là chính sách đặt hàng và kết nối hệ sinh thái. Nhà nước, tổ chức công đoàn, chính quyền địa phương có thể đặt hàng doanh nghiệp công nghệ, đơn vị sáng tạo, nhà xuất bản, hãng phim, nền tảng số xây dựng các gói sản phẩm văn hóa dành riêng cho công nhân.
- Ở tầm nhìn dài hạn, theo ông, việc nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân có ý nghĩa như thế nào đối với chất lượng nguồn nhân lực và sức mạnh nội sinh của Thủ đô?
- Nói cho cùng, chăm lo đời sống văn hóa, tinh thần cho công nhân không chỉ là làm cho cuộc sống của người lao động bớt khô khan, mà còn là bồi đắp phẩm giá, niềm tin, cảm giác thuộc về và động lực cống hiến của một lực lượng đang trực tiếp tạo ra của cải cho Thủ đô.
Khi đời sống văn hóa, tinh thần được quan tâm đúng mức, những giá trị như kỷ luật lao động, ý thức cộng đồng, tinh thần sáng tạo và khát vọng vươn lên sẽ được nuôi dưỡng bền bỉ từ bên trong.
Khi công nhân có điều kiện sống tốt hơn về tinh thần, họ không chỉ làm việc hiệu quả hơn mà còn gắn bó hơn với doanh nghiệp, với thành phố và với tương lai của chính mình. Đó cũng chính là cách để Hà Nội hiện thực hóa tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW, đặt con người ở vị trí trung tâm của phát triển, để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh của một Thủ đô văn hiến, văn minh, hiện đại.
- Xin trân trọng cảm ơn ông!
Luyện Đinh - Minh Phương (thực hiện)