Dư địa lớn cho phát triển điện gió ngoài khơi
Ngày 29/1, Báo Công Thương tổ chức "Diễn đàn hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030”. Diễn đàn được tổ chức góp phần hiện thực hóa Nghị quyết 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030; quán triệt các chủ trương lớn của Đảng về phát triển năng lượng theo Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị...
Trong khuôn khổ diễn đàn, PGS.TS Lê Quang Duyến - Trưởng khoa Dầu khí và Năng lượng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất cho biết, điện gió ngoài khơi đang phát triển mạnh trên phạm vi toàn cầu và được dự báo tiếp tục tăng tốc trong giai đoạn 2025 - 2030.
Theo ông Duyến, Việt Nam đang đối mặt đồng thời nhiều áp lực lớn về năng lượng. Nhu cầu điện tăng nhanh cùng quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số trong giai đoạn tới. Trong khi đó, các nguồn năng lượng truyền thống dần bộc lộ giới hạn. Thủy điện đã tiệm cận ngưỡng khai thác, nhiệt điện than chịu áp lực ngày càng lớn về môi trường và phát thải.
“Trong bối cảnh đó, điện gió ngoài khơi và hệ thống lưu trữ năng lượng sẽ trở thành những trụ cột mới của ngành năng lượng Việt Nam”, PGS.TS Lê Quang Duyến nhấn mạnh.
PGS.TS Lê Quang Duyến - Trưởng khoa Dầu khí và Năng lượng, Trường Đại học Mỏ - Địa chất phát biểu tại diễn đàn. Ảnh: Cấn Dũng
Việt Nam sở hữu đường bờ biển dài hơn 3.000 km, tạo lợi thế rõ rệt cho phát triển điện gió, đặc biệt là điện gió ngoài khơi. Các khu vực ven biển miền Trung và Nam Trung Bộ, trong đó có Phan Thiết, được đánh giá có chất lượng gió cao, ổn định, phù hợp phát triển các dự án công suất lớn.
Theo Quy hoạch điện VIII, điện gió ngoài khơi giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong cơ cấu nguồn điện. Công suất dự kiến đạt khoảng 6 GW vào năm 2030 và tăng lên gần 140 GW vào năm 2050. Tỷ trọng điện gió ngoài khơi trong cơ cấu nguồn điện tăng từ khoảng 4% năm 20230 tăng lên 16% vào năm 2050.
“Điện gió ngoài khơi có ưu thế về quy mô lớn, phù hợp với phụ tải nền dài hạn, đồng thời tạo động lực hình thành các chuỗi công nghiệp mới, từ chế tạo thiết bị đến dịch vụ biển”, ông Duyến phân tích.
Bên cạnh điện gió ngoài khơi, PGS.TS Lê Quang Duyến nhấn mạnh vai trò của hệ thống lưu trữ năng lượng trong quá trình chuyển dịch năng lượng. Theo ông, các nguồn năng lượng tái tạo như điện gió, điện mặt trời có tính biến động cao, phụ thuộc thời tiết và mùa vụ.
“Không thể chỉ phát điện rồi sử dụng ngay tại thời điểm phát. Hệ thống lưu trữ là yếu tố then chốt để điều phối, bảo đảm vận hành ổn định của lưới điện quốc gia”, PGS.TS Lê Quang Duyến nói.
Lưu trữ năng lượng giúp giảm quá tải lưới, tăng khả năng hấp thụ năng lượng tái tạo, đồng thời bù đắp thiếu hụt nguồn điện nền. Đây cũng là giải pháp quan trọng để bảo đảm an ninh năng lượng trong dài hạn.
Hoàn thiện khung pháp lý
Theo PGS.TS Lê Quang Duyến, để hiện thực hóa mục tiêu phát triển điện gió ngoài khơi gắn với hệ thống lưu trữ năng lượng, yêu cầu tiên quyết là hoàn thiện khung pháp lý. Trước hết, cần sớm ban hành các nghị định hướng dẫn việc giao khu vực biển phục vụ khảo sát, xây dựng quy trình đầu tư riêng cho điện gió ngoài khơi; rà soát, sửa đổi và bổ sung các quy định còn chồng chéo trong các luật liên quan đến điện lực, tài nguyên và môi trường biển, hải đảo.
“Nếu không có một hành lang pháp lý rõ ràng, thống nhất, việc triển khai các dự án điện gió ngoài khơi sẽ tiếp tục gặp nhiều thách thức”, PGS.TS Lê Quang Duyến nhấn mạnh.
Về cơ chế giá và đầu tư, PGS.TS Lê Quang Duyến đề xuất xây dựng cơ chế giá điện gió ngoài khơi theo lộ trình phù hợp, đi kèm triển khai mua bán điện trực tiếp. Theo ông, các chính sách ưu đãi ổn định, dài hạn là “chìa khóa” để thu hút dòng vốn quy mô lớn, nhất là từ nhà đầu tư quốc tế.
Cần thành lập một cơ quan đầu mối trực thuộc Chính phủ, thống nhất chỉ đạo chiến lược, quy hoạch và phát triển điện gió ngoài khơi, song song với việc hình thành các trung tâm nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao.
Liên quan đến quy hoạch và vốn, PGS.TS Lê Quang Duyến cho rằng, cần “đi trước một bước” trong quy hoạch điện gió ngoài khơi, tạo tín hiệu rõ ràng cho thị trường. Việt Nam cần chủ động tận dụng các quỹ tài chính khí hậu, nguồn vốn dài hạn và tăng cường hợp tác với các quốc gia có kinh nghiệm như Anh, Đan Mạch, Đức và Trung Quốc.
Quang cảnh diễn đàn “Hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030”. Ảnh: Cấn Dũng
Ông Duyến nhận định, lưu trữ năng lượng là “một cấu phần không thể thiếu của hệ thống điện”, có thể vận hành độc lập hoặc gắn với các nguồn năng lượng tái tạo, cần được đưa đầy đủ vào quy hoạch điện. Các công nghệ như pin, thủy điện tích năng, lưu trữ nhiệt hay hydrogen phải được nghiên cứu, thử nghiệm và đánh giá thận trọng theo điều kiện Việt Nam; trong đó, mô hình điện phân hydrogen ngoài khơi hiện còn hiệu suất thấp, còn phương án truyền điện vào bờ để điện phân cần được xem xét toàn diện trước khi triển khai.
Đồng thời, kiến nghị cho phép tích hợp hệ thống lưu trữ trong các dự án điện gió ngoài khơi, áp dụng cơ chế khấu hao và ưu đãi cao hơn đối với các dự án có đầu tư lưu trữ. Đồng thời, cần quy hoạch đồng bộ lưới điện, đầu tư hạ tầng cảng biển và thúc đẩy nội địa hóa thiết bị.
Diễn đàn “Hiện thực hóa cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030” được tổ chức góp phần hiện thực hóa Nghị quyết 253/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội về các cơ chế, chính sách phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030; quán triệt các chủ trương lớn của Đảng về phát triển năng lượng theo Nghị quyết 70-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đồng thời, làm rõ việc triển khai các chiến lược, quy hoạch quan trọng của ngành năng lượng, cũng như chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.
Phương Trang - Hồng Ngọc