Phải làm cho Nghị quyết đi vào trái tim Nhân dân

Phải làm cho Nghị quyết đi vào trái tim Nhân dân
2 giờ trướcBài gốc
Sáng 7/2, tại Hà Nội, Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.
Tại Hội nghị, đồng chí Trịnh Văn Quyết - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương trình bày chuyên đề “Một số vấn đề mới, cốt lõi và kinh nghiệm 40 năm đổi mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng”.
Đại hội của tầm nhìn chiến lược và khát vọng vươn mình
Đồng chí Trịnh Văn Quyết nêu rõ, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tầm vóc lịch sử đối với sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đây không chỉ là một kỳ Đại hội tổng kết nhiệm kỳ hay xác định mục tiêu 5 năm, mà là Đại hội định hình tư duy phát triển, xác lập mô hình tăng trưởng mới và kiến tạo nền tảng thể chế cho cả một chặng đường dài của dân tộc đến giữa thế kỷ XXI. Đại hội XIV thực sự là Đại hội của bước ngoặt phát triển, của tầm nhìn chiến lược và của khát vọng vươn mình mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Có thể khẳng định, Đại hội XIV đánh dấu bước chuyển sang giai đoạn “bứt phá phát triển”. “Bứt phá” ở đây không chỉ là tăng trưởng nhanh hơn về số lượng, mà là chuyển đổi căn bản về chất lượng phát triển, thể hiện ở những yêu cầu: đổi mới mô hình phát triển; thay đổi động lực tăng trưởng; nâng cao năng lực quản trị quốc gia; tạo thế và lực mới cho đất nước. Đó là bước chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ sang dựa vào tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; từ “theo kịp” sang “vươn lên cạnh tranh”; từ “ổn định để phát triển” sang tư duy biện chứng “phát triển để ổn định, ổn định để phát triển bền vững và cải thiện đời sống Nhân dân”.
Có thể khái quát một số thành công cơ bản của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng trên ba phương diện.
Thứ nhất, thành công về tư duy và nhận thức lý luận. Đại hội thể hiện rõ tinh thần khoa học, thực tiễn, dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật”, đánh giá khách quan cả thành tựu và hạn chế, chỉ rõ những “điểm nghẽn của phát triển” về thể chế, nguồn lực, quản trị, chất lượng tăng trưởng. Trên cơ sở đó, Đại hội đã bổ sung và phát triển nhiều nhận thức lý luận mới: tự chủ chiến lược; thể chế phát triển; khoa học, công nghệ là động lực chủ yếu; kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất; văn hóa, con người là sức mạnh nội sinh… Đây là biểu hiện sinh động của bản lĩnh tự đổi mới và năng lực tổng kết thực tiễn của Đảng cầm quyền, là kết tinh của những bài học kinh nghiệm qua 40 năm đổi mới vừa qua.
Thứ hai, thành công về định hướng chiến lược và thiết kế chính sách. Lần đầu tiên, một hệ quan điểm phát triển được xây dựng theo tư duy hệ thống, đa trụ cột, đa động lực, gắn chặt kinh tế với văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Đặc biệt, việc tích hợp ba báo cáo lớn thành một Báo cáo chính trị thống nhất là một thành công rất quan trọng cả về phương pháp luận và phương thức lãnh đạo.
Sự tích hợp này mang nhiều ý nghĩa sâu sắc: khắc phục tình trạng trùng lặp, phân tán, “mạnh ai nấy nói” giữa các văn kiện; bảo đảm sự thống nhất giữa đường lối chính trị, chiến lược kinh tế - xã hội và công tác xây dựng Đảng; tạo nên một chỉnh thể tư duy nhất quán, xuyên suốt. Quan trọng hơn, về mặt tổ chức thực tiễn: cán bộ, đảng viên dễ tiếp cận, dễ học tập, dễ quán triệt; tránh cách hiểu khác nhau giữa các báo cáo; giảm nguy cơ vận dụng rời rạc, cục bộ; tăng tính thống nhất ý chí và hành động trong toàn hệ thống chính trị.
Thứ ba, thành công về khơi dậy niềm tin và khát vọng phát triển dân tộc. Nếu văn kiện chỉ dừng ở chính sách mà không tạo được niềm tin xã hội thì khó trở thành động lực phát triển. Đại hội XIV đã làm được điều quan trọng hơn: khơi dậy mạnh mẽ tinh thần tự tin, tự lực, tự cường, ý chí vươn lên của toàn dân tộc; kết nối khát vọng của Đảng với mong muốn của Nhân dân; biến mục tiêu phát triển thành mệnh lệnh hành động chung.
Đó chính là sức mạnh tinh thần, nguồn lực nội sinh to lớn nhất, nền tảng để biến mọi chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước thành hiện thực. Từ sự phân tích các yếu tố trên cho thấy: Đại hội XIV không chỉ là một sự kiện chính trị thông thường, mà là dấu mốc lịch sử mở ra kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, của dân tộc, kỷ nguyên bứt phá, 5 sáng tạo và tự chủ. Vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giầu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
Chuyển từ “nghị quyết định hướng” sang “nghị quyết hành động
Đề cập đến cách tiếp cận mới và những đổi mới trong xây dựng văn kiện Đại hội XIV, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết cho biết, Đại hội XIV thể hiện sự đổi mới, sáng tạo trong phương thức tư duy và phương pháp lãnh đạo, cầm quyền của Đảng được phản ánh ngay từ cách xây dựng văn kiện. Bởi lẽ, trong điều kiện Đảng cầm quyền, văn kiện Đại hội không chỉ là tài liệu chính trị, mà chính là “bản thiết kế chiến lược”, công cụ lãnh đạo tối cao của Đảng đối với toàn xã hội. Đổi mới văn kiện thực chất là đổi mới phương thức lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.
Chúng ta có thể hiểu trên mấy vấn đề sau: Thứ nhất là đổi mới cách tiếp cận: từ tổng kết nhiệm kỳ sang thiết kế chiến lược phát triển. Ở các giai đoạn trước, văn kiện Đại hội thường thiên về tổng kết thành tựu, rút kinh nghiệm, đề ra mục tiêu và nhiệm vụ. Đại hội XIV đã vượt lên cách tiếp cận đó, chuyển mạnh sang tư duy thiết kế chiến lược phát triển dài hạn.
Thứ hai là tư duy hệ thống, toàn diện: tích hợp các lĩnh vực trong một chỉnh thể thống nhất. Một bước đột phá có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc là tích hợp ba báo cáo lớn thành một Báo cáo chính trị thống nhất. Sự đổi mới này phản ánh nhận thức mới: trong điều kiện phát triển hiện đại, chính trị không thể tách rời kinh tế; kinh tế không thể tách rời văn hóa - xã hội; sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước không thể tách rời xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.
Thứ ba, chuyển từ “nghị quyết định hướng” sang “nghị quyết hành động”. Lần đầu tiên, ngay trước và trong quá trình chuẩn bị Đại hội, Đảng ta đã đề ra một loạt quyết sách chiến lược về những lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa to lớn đối với đất nước như: Hoàn thiện hệ thống luật pháp; hội nhập quốc tế trong tình hình mới; phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; phát triển kinh tế tư nhân; phát triển nền văn hóa; chăm sóc y tế, sức khỏe cho Nhân dân…
Đó là một cách tiếp cận mới về phương pháp lãnh đạo của Đảng với tinh thần quyết liệt, khẩn trương - cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng đồng thời với quá trình hoạch định đường lối. Vừa qua, Đảng ta đã có tới 9 nghị quyết chiến lược, được triển khai thực hiện trước khi tổ chức Đại hội XIV của Đảng. Đây là thể hiện cách tiếp cận mới, tư duy mới và nhất là tư duy hành động, triển khai nghị quyết từ sớm để đạt tới mục tiêu là hiệu quả thực hiện nghị quyết.
Cũng là lần đầu tiên, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết được gắn trực tiếp vào Báo cáo chính trị trình bày trước Đại hội. Điều đó thể hiện tinh thần rất mới: Nói đi đôi với làm, mục tiêu gắn với giải pháp, giải pháp gắn với trách nhiệm, trách nhiệm gắn với thời hạn và nguồn lực. Qua đó, khắc phục những hạn chế đã tồn tại từ rất lâu: Nghị quyết đúng nhưng triển khai chậm; chủ trương rõ nhưng cụ thể hóa kéo dài. Đây chính là bước chuyển quan trọng: từ “tư duy chính sách” sang “tư duy quản trị và thực thi”.
“Vì vậy, có thể khẳng định: Đổi mới công tác xây dựng văn kiện Đại hội XIV không chỉ là đổi mới hình thức trình bày, mà là một biểu hiện cụ thể của đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới đảm bảo thiết thực hơn, hành động hơn và hiệu quả hơn”- đồng chí Trịnh Văn Quyết nêu rõ.
Những yêu cầu căn bản trong triển khai thực hiện Nghị quyết
Điểm nổi bật của Văn kiện lần này không chỉ nằm ở những mục tiêu cụ thể, mà sâu xa hơn là những chuyển biến căn bản về tư duy phát triển, mô hình tăng trưởng và phương thức tổ chức đất nước trong kỷ nguyên mới.
Có thể khái quát những vấn đề cốt lõi thành một số trụ cột chiến lược như: Bổ sung và phát triển “lý luận về đường lối đổi mới”, bước trưởng thành mới về tư duy lý luận của Đảng; Xác lập tư duy “tự chủ chiến lược” - định vị mới của Việt Nam trong một thế giới đầy biến động; Hoàn thiện thể chế phát triển, khâu đột phá chiến lược mang tính quyết định; Xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc: văn hóa, con người, giáo dục, đào tạo và kinh tế tư nhân; Tăng cường quốc phòng, an ninh, phát triển đối ngoại tương xứng tầm vóc đất nước.
Đồng chí Trịnh Văn Quyết nêu rõ, nếu Văn kiện Đại hội XIV được ví như bản thiết kế chiến lược cho tương lai phát triển của đất nước, thì tổ chức thực hiện chính là cầu nối từ tầm nhìn đến hiện thực. Thực tiễn nhiều nhiệm kỳ cho thấy một bài học rất sâu sắc: nghị quyết có thể rất đúng, rất hay, nhưng nếu tổ chức thực hiện không quyết liệt, không đồng bộ, thì nghị quyết vẫn chỉ dừng lại trên giấy. Vì vậy, yêu cầu rất lớn đặt ra hiện nay không chỉ là “hiểu đúng nghị quyết”, mà phải biến nghị quyết thành hành động cụ thể, thành chuyển biến thực chất trong đời sống kinh tế, xã hội, thành niềm tin của toàn dân, toàn quân đối với Đảng, đối với chế độ, đối với tương lai phát triển của đất nước.
Vì vậy, cần thống nhất cao về nhận thức, tạo đồng thuận xã hội, khơi dậy khát vọng phát triển. Trước hết, phải bắt đầu từ nhận thức. Bởi lẽ, mọi hành động đều bắt nguồn từ nhận thức; nhận thức không thống nhất thì hành động sẽ phân tán. Do đó, việc học tập, quán triệt Nghị quyết không thể làm hình thức, chiếu lệ, mà phải làm rõ tinh thần cốt lõi, làm rõ điểm mới, làm rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cán bộ. Cần chuyển mạnh từ cách học “đọc - chép - nghe báo cáo” sang thảo luận vấn đề, liên hệ thực tiễn địa phương, đơn vị mình, của tổ chức mình để xác định việc làm, lộ trình, giải pháp tổ chức thực hiện và các mục tiêu cụ thể.
Quan trọng hơn, phải làm cho Nghị quyết không chỉ đi vào đầu óc cán bộ, mà đi vào trái tim Nhân dân, nghĩa là phải làm cho Nhân dân hiểu, đồng thuận, đồng tình, đồng lòng tham gia thực hiện. Bởi suy cho cùng, động lực lớn nhất của phát triển chính là: niềm tin xã hội, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn lên của mỗi con người Việt Nam. Khi Nhân dân tin tưởng và đồng thuận, thì không khó khăn nào không thể vượt qua.
Đồng thời, cần thể chế hóa nhanh, đầy đủ và đồng bộ, đây là khâu đột phá của tổ chức thực hiện. Một trong những “điểm nghẽn của điểm nghẽn” lâu nay chính là: đường lối, chủ trương đúng nhưng chậm thể chế hóa. Chậm luật hóa, chậm ban hành cơ chế, chính sách cũng đồng nghĩa với chậm phát huy nguồn lực, chậm cơ hội phát triển. Vì vậy, yêu cầu cấp bách là khẩn trương rà soát hệ thống pháp luật, sửa đổi những quy định chồng chéo, mâu thuẫn, loại bỏ những “giấy phép con”, tháo gỡ các rào cản thủ tục.
Đặc biệt, phải ưu tiên thể chế hóa các đột phá chiến lược: thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, chính sách phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục và đào tạo, cơ chế thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế nhà nước, phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực, vận hành thông suốt hệ thống chính quyền địa phương hai cấp, nhất là cấp xã, phường, đặc khu.
Vấn đề cấp bách trước mắt là phải nhanh chóng xây dựng, hoàn thiện, ban hành các văn bản, hoàn thiện hành lang pháp lý để các quyết sách chiến lược của Đảng đi vào thực tế cuộc sống, phát huy tác dụng, hiệu quả sớm nhất có thể, mang lại lợi ích sớm nhất cho Nhân dân. Thể chế càng minh bạch, hành lang pháp lý càng thông thoáng, thủ tục hành chính càng đơn giản, thuận tiện thì nguồn lực xã hội càng được giải phóng, động lực phát triển càng phát huy mạnh mẽ.
Có thể nói: thể chế tốt chính là “đòn bẩy lớn nhất” để hiện thực hóa thành công khát vọng phát triển của Đại hội XIV. Do đó, việc triển khai Nghị quyết phụ thuộc trước tiên và một phần lớn vào việc thể chế hóa nhanh, đầy đủ và đồng bộ các quyết sách chiến lược của Đảng.
Bên cạnh đó, phải đổi mới phương thức tổ chức thực hiện theo tư duy quản trị hiện đại. Một yêu cầu rất quan trọng là phải chuyển mạnh từ cách điều hành hành chính sang tư duy quản trị phát triển hiện đại. Nghị quyết không thể triển khai chung chung, mà phải được cụ thể hóa thành chương trình, đề án, dự án, sản phẩm và hiệu quả cụ thể. Mỗi việc phải rõ mục tiêu, rõ lộ trình, rõ nguồn lực, rõ người chịu trách nhiệm, rõ kết quả và hiệu quả. Lấy kết quả cuối cùng làm thước đo đánh giá năng lực, phẩm chất của cán bộ, không phải báo cáo hình thức. Cần áp dụng mạnh mẽ quản trị theo dữ liệu, chuyển đổi số trong quản lý, đánh giá hiệu quả bằng chỉ số định lượng (KPI). Qua đó, bảo đảm: nói ít, làm nhiều, làm đến nơi đến chốn, có sản phẩm cụ thể cho Nhân dân thụ hưởng, lấy sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo năng lực, phẩm chất của từng cán bộ, đảng viên, từng cơ quan trong hệ thống chính trị.
Cùng với các yêu cầu và giải pháp trên, đồng thời phải lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm phương thức hành động chủ đạo; xây dựng đội ngũ cán bộ - nhân tố quyết định của mọi thắng lợi. Thực tiễn đã chứng minh: đường lối đúng đến đâu mà cán bộ yếu kém thì cũng không thành công; ngược lại, cán bộ tốt có thể biến chủ trương đúng đắn, hợp lý thành kỳ tích. Vì vậy, phải đặc biệt coi trọng: Lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; đề cao trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu; kiên quyết chống tham nhũng, tiêu cực, lợi ích nhóm; thực hiện cơ chế “có vào có ra, có lên có xuống”. Cán bộ thời kỳ mới phải có tầm nhìn chiến lược, có năng lực quản trị hiện đại, có bản lĩnh đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Chỉ khi mỗi cán bộ thực sự là “hạt nhân hành động”, thì Nghị quyết mới đi vào cuộc sống thực sự.
Tinh thần xuyên suốt: hành động - quyết liệt - hiệu quả. Triển khai Nghị quyết Đại hội XIV đòi hỏi một tinh thần mới: nhanh hơn, quyết liệt hơn, sáng tạo hơn, hiệu quả hơn. Chúng ta không chấp nhận trì trệ, né tránh trách nhiệm, nói nhiều làm ít. Mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi địa phương phải tự hỏi: Mình đã làm gì cụ thể để hiện thực hóa mục tiêu Đại hội? Bởi thành công của Đại hội không được đo bằng lời nói, mà được đo bằng sự tăng trưởng của nền kinh tế, chất lượng sống của Nhân dân, niềm tin xã hội, và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Vân Anh
Nguồn Pháp Luật VN : https://baophapluat.vn/phai-lam-cho-nghi-quyet-di-vao-trai-tim-nhan-dan.html