Phạm Ngọc Cảnh với bài thơ 'Một tên làng Quảng Trị'

Phạm Ngọc Cảnh với bài thơ 'Một tên làng Quảng Trị'
3 giờ trướcBài gốc
Sinh trưởng trong một gia đình hiếu học, Phạm Ngọc Cảnh được gia đình cho ăn học tử tế. Cách mạng tháng Tám thành công, Phạm Ngọc Cảnh mới 12 tuổi đã tình nguyện gia nhập hàng ngũ Vệ quốc quân, làm liên lạc viên, rồi tham gia vào đội tuyên truyền văn nghệ của Trung đoàn 103 Hà Tĩnh, tiếp đó lại trở thành diễn viên kịch nói.
Trong kháng chiến chống Mỹ, ông ở đoàn Văn công quân khu Trị Thiên, từng biểu diễn giữa thành phố Huế trong chiến dịch Mậu Thân. Về sau ông là diễn viên trụ cột của đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị.
Màu xanh no ấm ở làng quê Vĩnh Linh hôm nay - Ảnh: X.D
Nhưng rồi từ một diễn viên chuyên nghiệp, ông trở thành nhà thơ như một điều không thể khác vì những đam mê thi ca đã nung nấu nhiều năm. Ông trở thành một trong những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ. Nhiều sáng tác của ông được công chúng thi ca nồng nhiệt đón nhận như bài thơ “Lý ngựa ô ở hai vùng đất”, “Cô Tấm ở trong nhà”… là minh chứng.
Bài thơ "Một tên làng Quảng Trị" viết năm 1984 là một sáng tác sau ngày nước nhà thống nhất gần 10 năm, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ đã dần lùi vào ký ức. Đây là một bài thơ mộc mạc mà đáng nhớ về miền đất ông từng đi qua trong chiến tranh và gắn bó lúc hòa bình.
Bài thơ như nhiều tác phẩm khác của những nhà thơ áo lính, bắt đầu là những hoài niệm đằm sâu: "Qua rất nhiều tháng năm/hết sáng bình yên lại chiều binh lửa/lòng ta chốt giữ hai đầu/cái tên làng ở giữa".Hình như không có điều gì to tát cả. Một tên đất, một tên làng, thậm chí có thể là một ngôi làng nhỏ như bao nhiêu ngôi làng khác mà người lính-người thơ đã đi qua. Nhưng, không hiểu sao nó vẫn hiện về ám ảnh, vẫn thao thức, thúc giục người ta nhớ về nó như là một hướng đi của cảm xúc không thể khác, từ những điều tưởng như quen thuộc và rất đỗi bình thường: "Ùa vào sâu niềm tưởng nhớ/cái ta chưa để ý một lần/cái không có tên trên bản đồ chiến sự/ai hơi đâu mà chép thêm vào lịch sử/lối rẽ vào làng in dấu chân/mà chiều qua trong một thoáng phân vân/đã chợt về nâng đỡ".
Có vẻ như không thể cắt nghĩa theo kiểu số học về những cảm xúc khó quên và khó tả, nhưng nó hiện hữu cụ thể, rất cụ thể. Và nói như tác giả, những điều có vẻ nhỏ nhặt, như không đáng kể, như không có ai để ý, lại có một bí ẩn sâu xa đeo đẳng tâm tư nhà thơ, nâng đỡ nhà thơ vào những khi tâm hồn chống chếnh: "Mẹ chẳng cố tình bắt ta lưu giữ/em không hề khuyên/không bát về dâng hương ngày giỗ kỵ/một tên làng Quảng Trị/suốt đời đâu dám quên".
Đúng vậy, tình cảm là một trạng thái tinh thần tự nhiên, không thể gò ép, miễn cưỡng. Cả tên làng và nỗi nhớ về Quảng Trị cũng thế, nó hình thành tự nhiên và ăn sâu vào tiềm thức, thành nỗi nhớ thương da diết, sâu nặng, có khi theo suốt một đời người. Chính vì thế mà khi bắt đầu đoạn cuối bài thơ trong xúc cảm dạt dào: "Ở với ta lúc vui lúc buồn/lúc suôn sẻ lúc cay đắng/không đòi trả ơn mà nghĩa nặng/không ràng buộc mà thân gần/không giao đãi ngọt ngào mà lặng thấu/làm vốn nuôi con làm quà tặng cháu".
Lời thơ tả thực, chân chất như lúa, như khoai, như cát trắng bời bời Quảng Trị trong những tháng ngày kháng chiến chống Mỹ. Tưởng chẳng có gì đáng nói nhiều, bởi không phải thân hơi cật ruột, bởi cũng không phải là nơi chôn nhau cắt rốn… tưởng như chẳng có gì ràng buộc, vậy mà sao cứ khiến lòng người nhớ thương da diết đến độ không thể nào quên.
Hơn thế, còn trở thành hành trang tinh thần quý giá, thành bảo vật tình nghĩa gia bảo truyền lại cho đời sau. Tưởng là người dưng mà gắn bó lạ lùng. Có vẻ như nghịch lý vậy mà vẫn dễ hiểu, dễ cảm, dễ sẻ chia bởi “Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương": "Cái tên làng Quảng Trị ấy thôi/cái tên làng Quảng Trị đứng loi thoi/dọc bấy nhiêu trận mạc/trắng phau doi cát bồi".
Ở một nơi khí hậu khắc nghiệt, thậm chí còn có thể đồng khô cỏ cháy, cát trắng đến nhức mắt người, tưởng như nắng gió, khô hạn sẽ khiến cho tình nghĩa dễ phôi pha. Thế nhưng trái lại, đó là mảnh đất nghĩa tình, nảy lộc đâm chồi tình nghĩa quân dân trong thời trận mạc, khi sống chết đổi thay trong nháy mắt. Những tình cảm, ơn nghĩa đã đền bồi, đã giang rộng vòng tay kéo con người đến gần lại với nhau và trở nên thân thiết như ruột thịt. Không ồn ào, không hoa mỹ, bộc trực và kiệm ngôn, thậm chí có khi chẳng cần phải nói ra nhưng đã hiểu, đã kết giao thì yêu quý nhau đến tận cùng. Quảng Trị, một mảnh đất quá đỗi lạ lùng cứ vang lên không dứt trong tâm cảm nhà thơ. Hay có lẽ ông thấy mảnh đất này có nhiều điểm tương đồng với quê mẹ của ông ở Hà Tĩnh.
"Một tên làng Quảng Trị" với thi tứ và ngôn ngữ bình dị, cụ thể, chân thực và da diết ân tình đã khắc họa tình cảm của một nhà thơ tên tuổi với mảnh đất này.
Phạm Xuân Dũng
Nguồn Quảng Trị : https://baoquangtri.vn/van-hoa/202604/pham-ngoc-canh-voi-bai-tho-mot-ten-lang-quang-tri-e9c41ab/