Phân quyền, phân cấp mạnh cho địa phương
Bộ NN&MT đề nghị UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo tổ chức thực hiện nghiêm các quy định mới; chủ động bố trí nguồn lực, tổ chức tập huấn cho đội ngũ công chức, viên chức làm công tác quản lý nhà nước về thủy sản và kiểm ngư; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản.
Một trong những nội dung trọng tâm của Nghị định số 41/2026/NĐ-CP là tiếp tục đẩy mạnh phân quyền, phân cấp trong quản lý thủy sản. Theo đó, nhiều nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực này được phân quyền từ Trung ương cho chính quyền địa phương, nhằm tăng tính chủ động trong quản lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản.
Cụ thể, Chủ tịch UBND tỉnh được phân quyền từ Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập khu bảo tồn biển nằm trong phạm vi quản lý hành chính trên biển của địa phương, kể cả trường hợp khu bảo tồn biển có phần diện tích nằm trong và ngoài ranh giới quản lý hành chính của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Nội dung trọng tâm của Nghị định số 41/2026/NĐ-CP là tiếp tục đẩy mạnh phân quyền, phân cấp trong quản lý thủy sản.
Trên cơ sở các tiêu chí do BNN&MT ban hành, UBND cấp tỉnh được giao thẩm quyền ban hành danh mục nghề, ngư cụ cấm sử dụng khai thác thủy sản; danh mục khu vực cấm khai thác thủy sản có thời hạn tại vùng ven bờ, vùng lộng và vùng nội địa. Đồng thời, các địa phương có trách nhiệm hiệp thương, thống nhất quản lý đối với các khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản liên tỉnh.
Bên cạnh đó, nhiều nhiệm vụ quản lý chuyên ngành cũng được phân quyền cho Chủ tịch UBND cấp tỉnh, như ban hành quy chế quản lý khu bảo tồn biển thuộc thẩm quyền thành lập; ban hành danh mục khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn; cấp phép nhập khẩu giống thủy sản, thức ăn thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nuôi trồng thủy sản để khảo nghiệm, nghiên cứu khoa học; công nhận kết quả khảo nghiệm giống thủy sản và các sản phẩm phục vụ nuôi trồng thủy sản.
Ngoài ra, Chủ tịch UBND cấp tỉnh còn được giao thẩm quyền cấp phép nhập khẩu, thuê tàu cá để khai thác thủy sản; cấp, cấp lại, thu hồi giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện đăng kiểm tàu cá; cấp văn bản chấp thuận khai thác các loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm phục vụ mục đích bảo tồn, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.
Ở cấp cơ sở, một số nhiệm vụ tiếp tục được phân cấp từ cơ quan quản lý thủy sản cấp tỉnh cho UBND cấp xã, trong đó có việc quản lý, xác nhận nguồn gốc các loài thủy sản nguy cấp, quý, hiếm và cấp giấy xác nhận đối với cơ sở nuôi trồng thủy sản lồng bè, đối tượng thủy sản nuôi chủ lực trên nội địa.
Việc phân quyền, phân cấp theo Nghị định số 41/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, đồng thời bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản.
Những quy định mới cần lưu ý trong quản lý thủy sản
Bộ NN&MT cho biết, Nghị định số 41/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thủy sản sửa đổi, với nhiều nội dung mới quan trọng trong quản lý nuôi trồng, khai thác thủy sản và tàu cá.
Đối với nuôi trồng thủy sản trên biển, Nghị định bãi bỏ thủ tục “Cấp phép nuôi trồng thủy sản trên biển”, theo hướng tích hợp với thủ tục “Giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản”. Theo đó, tổ chức, cá nhân nuôi trồng thủy sản trên biển phải có phương án hoặc dự án nuôi trồng thủy sản đáp ứng quy định và được cơ quan có thẩm quyền giao khu vực biển theo pháp luật. Nghị định cũng quy định cụ thể cách xác định các đối tượng được miễn tiền sử dụng khu vực biển để nuôi trồng thủy sản, bảo đảm thống nhất với Luật Thủy sản sửa đổi.
Trong hoạt động khai thác thủy sản, Nghị định quy định rõ phạm vi hoạt động của tàu hậu cần đánh bắt thủy sản theo chiều dài tàu, phân định cụ thể giữa vùng ven bờ, vùng lộng và vùng khơi nhằm tăng cường quản lý hoạt động chuyển tải thủy sản. Đồng thời, không chấp thuận đóng mới, cải hoán tàu cá làm nghề lưới kéo và lưới rê thu ngừ, trừ trường hợp cải hoán sang làm nghề khác.
Nghị định số 41/2026/NĐ-CP siết chặt quản lý hệ thống giám sát hành trình tàu cá.
Đáng chú ý, công tác quản lý hệ thống giám sát hành trình tàu cá được siết chặt hơn. Theo quy định, mỗi tàu cá chỉ được lắp đặt tối đa 2 thiết bị giám sát hành trình; các tàu đã lắp từ 3 thiết bị trở lên trước thời điểm Nghị định có hiệu lực được tiếp tục sử dụng đến hết ngày 30/6/2026. Chủ tàu và thuyền trưởng phải bảo đảm thiết bị hoạt động liên tục 24/7, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo vị trí tàu cá trong các trường hợp mất tín hiệu hoặc tạm ngừng khai thác. Nghị định cũng bổ sung trách nhiệm của đơn vị cung cấp dịch vụ vệ tinh và quy định chặt chẽ hơn việc lắp đặt, tháo gỡ thiết bị giám sát hành trình.
Về giấy phép khai thác thủy sản, Nghị định quy định tỉnh, thành phố không có biển nhưng có tàu cá hoạt động trên biển phải hiệp thương với địa phương có biển để cấp, cấp lại giấy phép khai thác tại vùng ven bờ và vùng lộng. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu tiếp tục khai thác phải đề nghị cấp lại giấy phép trước tối thiểu 30 ngày khi giấy phép sắp hết hạn.
Bên cạnh đó, Nghị định làm rõ phạm vi hoạt động của lực lượng Kiểm ngư trung ương và Kiểm ngư địa phương; bổ sung quy định về xuất khẩu tàu cá, xóa đăng ký tàu cá; đồng thời quy định cụ thể các nội dung chuyển tiếp nhằm bảo đảm tính ổn định trong quản lý. Theo lộ trình, các thiết bị giám sát hành trình đã lắp đặt trước đây phải được cập nhật, bổ sung tính năng kỹ thuật theo quy định mới trước ngày 31/12/2026.
Bộ NN&MT đề nghị các địa phương nghiêm túc triển khai Nghị định số 41/2026/NĐ-CP, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ và phát triển bền vững ngành thủy sản.
Vân Hồng/VOV.VN