Phấn đấu đến năm 2030, tăng trưởng ngành sữa bình quân đạt 12 - 14%/năm

Phấn đấu đến năm 2030, tăng trưởng ngành sữa bình quân đạt 12 - 14%/năm
4 giờ trướcBài gốc
Tự chủ nguyên liệu
Mục tiêu đặt ra là xây dựng ngành công nghiệp chế biến sữa Việt Nam phát triển bền vững với chuỗi giá trị hoàn chỉnh từ phát triển đàn bò sữa, tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu đến chế biến thành phẩm có giá trị gia tăng cao. Ngành sữa hướng tới đáp ứng cơ bản nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng sữa khu vực và toàn cầu.
Chiến lược phấn đấu đến năm 2030, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân đạt khoảng 12,0 - 14,0%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 4.200 triệu lít/năm. Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 2.600 triệu lít mỗi năm, đáp ứng khoảng 60-65% nhu cầu của ngành chế biến trong nước.
Đối với sữa bột, mục tiêu tăng trưởng đạt khoảng 7,0-8,0%/năm, sản lượng đạt khoảng 245.000 tấn/năm. Mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa phấn đấu đạt khoảng 40 lít/người/năm.
Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành sữa giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Ảnh minh họa.
Đến năm 2045, tốc độ tăng trưởng ngành sữa bình quân đạt từ 5,0 - 6,0%/năm. Sản lượng sữa lỏng chế biến đạt khoảng 9.700 triệu lít/năm. Sản lượng sữa tươi nguyên liệu trong nước đạt khoảng 8.000 triệu lít mỗi năm, đáp ứng khoảng 80 - 85% nhu cầu chế biến trong nước. Sản lượng sữa bột đạt khoảng 415.000 tấn/năm với tốc độ tăng trưởng 3,0 - 4,0%/năm. Mức tiêu thụ bình quân sữa và sản phẩm sữa đạt khoảng 100 lít/người/ năm.
Chiến lược xác định xây dựng chuỗi chăn nuôi bò sữa bảo đảm an toàn dịch bệnh, an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế. Phát triển đàn bò sữa theo hướng trang trại tập trung kết hợp với hợp tác xã, nông hộ, gắn với hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tăng sản lượng sữa tươi nguyên liệu, giảm dần phụ thuộc vào nhập khẩu.
Phát triển sản phẩm giá trị gia tăng, mở rộng thị trường
Chiến lược định hướng đa dạng hóa sản phẩm sữa gắn với nâng cao chất lượng, mẫu mã, bao bì. Khuyến khích nghiên cứu, ứng dụng công nghệ số, blockchain, trí tuệ nhân tạo trong quản lý đàn bò, truy xuất nguồn gốc và phân phối nhằm nâng cao tỷ trọng sản phẩm có giá trị gia tăng cao.
Ưu tiên phát triển sữa và chế phẩm từ sữa, sữa công thức theo từng nhóm tuổi, sản phẩm dành cho người có nhu cầu chuyên biệt. Đối với sữa học đường, chỉ sử dụng nguồn sữa tươi, bảo đảm tiếp cận sữa tươi cho trẻ em vùng khó khăn, học sinh dân tộc thiểu số.
Chiến lược cũng đặt ra yêu cầu thúc đẩy khoa học, đổi mới sáng tạo, đầu tư dây chuyền sản xuất tự động hóa thế hệ mới có mức tiêu hao nguyên, nhiên liệu thấp, hiệu suất cao, thân thiện với môi trường. Đồng thời, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong toàn bộ chuỗi giá trị từ phát triển giống bò sữa năng suất cao đến chế biến, bảo quản và phân phối sản phẩm.
Đối với doanh nghiệp, khuyến khích mở rộng quy mô đàn bò, nâng cao công suất chế biến, đầu tư dự án theo chuỗi giá trị khép kín từ chăn nuôi đến chế biến, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm và tuân thủ quy định bảo vệ môi trường. Chiến lược hướng tới hình thành các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn trong lĩnh vực sản xuất sữa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.
Về thị trường trong nước, yêu cầu đổi mới phương thức tiếp cận thị trường, tăng cường truyền thông nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng, ứng dụng công nghệ số, tiếp thị trực tuyến trên nền tảng Internet và mạng xã hội, cơ cấu lại hệ thống phân phối theo hướng thông minh, hiện đại. Đồng thời, tăng cường chính sách chống gian lận thương mại, đặc biệt trên môi trường thương mại điện tử.
Đối với thị trường xuất khẩu, thực hiện đa dạng hóa thị trường, tăng cường nghiên cứu, phát triển thị trường mới, đẩy mạnh đàm phán kỹ thuật thú y, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do và cam kết quốc tế, chủ động tháo gỡ rào cản kỹ thuật. Đẩy mạnh xây dựng, quảng bá thương hiệu sữa Việt Nam, phát triển chỉ dẫn địa lý, hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết tranh chấp thương mại.
Về nhập khẩu, Chiến lược nêu rõ nghiên cứu tiếp cận công nghệ sản xuất, chế biến tiên tiến; đa dạng hóa thị trường nhập khẩu để bảo đảm nguồn cung ổn định, chất lượng với giá cạnh tranh, nhập khẩu những sản phẩm trong nước chưa chế biến được phù hợp với thị hiếu.
Để bảo đảm an toàn thực phẩm, yêu cầu rà soát, cập nhật tiêu chuẩn, quy chuẩn theo nguyên tắc đồng bộ với các tiêu chuẩn quốc tế như Codex, ISO, HACCP, OAOC và tiêu chuẩn Halal. Xây dựng các trung tâm kiểm nghiệm an toàn thực phẩm khu vực theo tiêu chuẩn quốc tế, bố trí kinh phí cho hoạt động kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất.
Xanh hóa ngành công nghiệp chế biến sữa thông qua áp dụng công nghệ tiên tiến, đánh giá vòng đời sản phẩm, phát triển nhãn xanh, nhãn sinh thái, áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định về an toàn và bảo vệ môi trường, trang bị hệ thống quan trắc và kiểm soát ô nhiễm tại cơ sở sản xuất.
Năm 2025, tổng doanh thu toàn ngành ước đạt 133.042 tỷ đồng, tăng khoảng 1% so với năm 2024. Nhập khẩu sữa và sản phẩm sữa tăng mạnh, đạt khoảng 1,26 tỷ USD, tăng 23,3% so với cùng kỳ năm 2024. Xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa tiếp tục là điểm sáng, kim ngạch xuất khẩu đạt 354,1 triệu USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2024.
Nguyên Thảo
Nguồn Công Thương : https://congthuong.vn/phan-dau-den-nam-2030-tang-truong-nganh-sua-binh-quan-dat-12-14-nam-444158.html