Từ hoạch định sang hành động
Thực tế cho thấy, nhiều giai đoạn phát triển trước đây đã chứng kiến khoảng cách không nhỏ giữa mục tiêu đặt ra và kết quả đạt được, dù định hướng chính sách không sai và nguồn lực không thiếu. Khoảng cách đó phần lớn xuất phát từ khâu triển khai - nơi chính sách được chuyển hóa thành hành động cụ thể. Chính vì vậy, khi bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng cao hơn về cả tốc độ và chất lượng, năng lực thực thi trở thành yếu tố mang tính quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng.
Các nghiên cứu và phân tích quốc tế cũng chỉ ra rằng, rủi ro lớn nhất đối với các nền kinh tế theo đuổi tăng trưởng cao không nằm ở bản thân mục tiêu tăng trưởng, mà ở sự thiếu đồng bộ và nhất quán trong điều hành. Khi các chính sách được triển khai rời rạc, thiếu phối hợp hoặc thay đổi đột ngột, chi phí và rủi ro của khu vực sản xuất - kinh doanh sẽ gia tăng, làm suy giảm hiệu quả của tăng trưởng và niềm tin của thị trường.
Một trong những yêu cầu cốt lõi đặt ra cho giai đoạn 2026-2030 là thay đổi cách tiếp cận trong tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, với trọng tâm là hiệu quả thực chất và tác động cuối cùng của chính sách đối với tăng trưởng, năng suất. Điều này đòi hỏi các mục tiêu phát triển phải được lượng hóa rõ ràng, có thể theo dõi, giám sát thường xuyên và điều chỉnh kịp thời khi bối cảnh thay đổi. Những sai lệch, chậm trễ dù nhỏ trong thực thi nếu không được phát hiện và xử lý sớm có thể tích tụ thành rủi ro lớn, gây lãng phí nguồn lực và làm suy giảm hiệu quả chung.
Cùng với đó, yêu cầu phân định rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương trong triển khai các nhiệm vụ phát triển trở nên đặc biệt quan trọng. Khi trách nhiệm không được xác định rõ ràng, chính sách dễ rơi vào tình trạng “đúng chủ trương nhưng chậm thực hiện”, làm mất đi nhịp tăng trưởng và gia tăng chi phí cơ hội. Trong bối cảnh tăng trưởng cao được đặt ra như một mục tiêu xuyên suốt, kỷ luật thực thi không chỉ là vấn đề quản trị hành chính, mà là điều kiện để bảo đảm tính nhất quán và hiệu quả của chính sách.
Chính sách, chủ trương đúng nhưng tăng trưởng cao kéo dài chỉ có thể đạt được khi bộ máy điều hành vận hành theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ và rõ kết quả”. Đây cũng là cách để hạn chế tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm - một trong những nguyên nhân làm suy giảm hiệu quả của điều hành trong quá khứ.
Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo của Chính phủ về quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô đã chủ trì Phiên họp lần thứ nhất của Ban Chỉ đạo ngày 29/12/2025 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
“Test” kỳ vọng bằng kỷ luật thực thi và trách nhiệm giải trình
Bước vào giai đoạn 2026-2030, môi trường kinh tế trong nước và quốc tế được dự báo tiếp tục tiềm ẩn nhiều biến động khó lường. Trong bối cảnh đó, năng lực điều hành không chỉ thể hiện ở việc ban hành chính sách đúng, mà còn ở khả năng phối hợp, phản ứng kịp thời và điều chỉnh linh hoạt để giữ ổn định và duy trì đà tăng trưởng.
Trong bối cảnh dư địa chính sách không còn quá rộng, yêu cầu đặt ra là nâng cao chất lượng điều hành thông qua cải thiện năng lực dự báo, tăng cường phối hợp giữa các cấp, các ngành và bảo đảm tính ổn định của khuôn khổ chính sách. Điều này đặc biệt quan trọng khi tăng trưởng cao cần được duy trì trong nhiều năm, đòi hỏi một “nhịp điều hành” ổn định, dự báo được, tránh các cú sốc bất ngờ.
Song song với đó, việc cải cách hành chính theo hướng giảm chi phí tuân thủ, chuyển mạnh từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, thúc đẩy chuyển đổi số và bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực hiện công vụ được xem là những yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả điều hành. Khi bộ máy hành chính vận hành linh hoạt, minh bạch và kỷ luật, khả năng phản ứng chính sách sẽ được cải thiện, giúp nền kinh tế thích ứng tốt hơn với những thay đổi nhanh chóng của môi trường phát triển.
Về tổng thể, tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030 không chỉ là bài toán về mục tiêu, động lực hay nguồn lực, mà trước hết là bài toán về năng lực thực thi. Mọi hạn chế trong tổ chức triển khai khi bộc lộ nhưng không được xử lý kịp thời sẽ tác động trực tiếp đến vận hành và kết quả phát triển. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, những nền kinh tế duy trì được tăng trưởng cao và bền vững đều có điểm chung là bộ máy điều hành hiệu quả, kỷ luật thực thi nghiêm và cơ chế giám sát, đánh giá rõ ràng.
Đặc biệt với những quốc gia đã thành công trong vươn lên nhóm thu nhập cao đều có điểm chung là cải thiện đáng kể tính nhất quán và khả năng dự báo trong thực thi chính sách và pháp luật. Dữ liệu nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB) chỉ ra, trong quá trình phát triển, các nước này duy trì xu hướng nâng cao chất lượng thực thi pháp luật, qua đó tạo dựng môi trường thể chế minh bạch, giảm rủi ro chính sách và củng cố niềm tin của khu vực tư nhân. Việc nâng cao tính dự báo và chất lượng thực thi pháp luật không diễn ra một cách tự nhiên, mà là kết quả của cải cách quản trị công toàn diện, bao gồm xây dựng bộ máy quản trị hiệu quả và tinh gọn, thúc đẩy phân cấp đi đôi với trách nhiệm giải trình, phát triển nền công vụ chuyên nghiệp, có năng lực và động lực làm việc. Điều này cho thấy, tăng trưởng bền vững không chỉ phụ thuộc vào vốn, lao động hay công nghệ, mà còn gắn chặt với năng lực thể chế.
Một bộ “điều kiện thành công” có thể dùng như tiêu chí kiểm định xuyên suốt cho giai đoạn tới là: Rõ ràng (một lộ trình rõ ràng, được hoạch định tốt), Nhất quán (nhất quán giữ động lượng cải cách ngay cả khi gặp lực cản), và Dũng cảm (ra quyết định táo bạo, dũng cảm gắn với các lợi ích dài hạn).
Có thể coi đây là những tiêu chí quan trọng để kiểm định năng lực điều hành trong giai đoạn tới, vì nếu thiếu Rõ ràng, thị trường sẽ định giá rủi ro cao hơn; Nếu thiếu Nhất quán, cải cách dễ bị trùng lại, khiến doanh nghiệp không dám đầu tư dài hạn; Nếu thiếu Dũng cảm, sẽ làm lỡ các “cửa sổ cơ hội” đang có, đồng thời kéo dài mô hình tăng trưởng theo chiều rộng dựa chủ yếu vào các nguồn lực truyền thống. Theo nghĩa đó, việc có mục tiêu và có công cụ là chưa đủ, điều cốt lõi là biến nó thành hành động chính sách đúng nhịp, nhất quán và đủ mạnh để loại bỏ được rủi ro thực thi.
Theo bà Mariam Sherman, Giám đốc Quốc gia WB tại Việt Nam, Lào và Campuchia, Việt Nam đã nhận diện rõ nhu cầu phải hành động và đang triển khai các cải cách với tinh thần khẩn trương và quyết tâm cao. “Việt Nam có tiềm năng để thành công, bởi ít quốc gia nào có được sự kết hợp giữa cam kết tăng trưởng, thành tích phát triển ấn tượng và năng lực cải cách đã được chứng minh như vậy. Ngân hàng Thế giới tự hào là đối tác phát triển lâu dài và cam kết tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong chặng đường phía trước thông qua nguồn lực tài chính và tri thức”, bà Mariam Sherman nhấn mạnh.
Khi chính sách được triển khai đồng bộ, trách nhiệm được gắn với kết quả và bộ máy vận hành theo nguyên tắc minh bạch, kỷ luật, tăng trưởng cao sẽ có nền tảng vững chắc hơn và ít phụ thuộc vào các giải pháp mang tính ngắn hạn. Như vậy có thể thấy rằng, mục tiêu tăng trưởng cao chỉ có thể hiện thực hóa bởi năng lực điều hành và thực thi tương xứng. Khâu thực thi, vì thế, không chỉ là bước cuối trong quá trình hoạch định và triển khai chính sách, mà chính là bài kiểm tra quyết định đối với thành công của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới.
Theo Chỉ thị số 31/CT-TTg, trong xây dựng Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030, một trong các định hướng, nhiệm vụ chủ yếu là: “Ưu tiên bố trí nguồn lực hoàn thiện hệ thống pháp luật với cấu trúc tinh gọn, hợp lý, khoa học. Bảo đảm công tác xây dựng và thi hành pháp luật bám sát thực tiễn, nắm bắt mọi cơ hội, khơi thông mọi nguồn lực, là "đột phá của đột phá" trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước. Đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, khuyến khích đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp, phát triển thị trường khoa học công nghệ, thu hút mọi nguồn lực cho phát triển; tập trung rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm", giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp. Bảo đảm kỷ luật, kỷ cương hành chính trong thực hiện công vụ”.
Theo dự kiến, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026-2030 sẽ được Bộ Tài chính trình Chính phủ trong quý I/2026 và báo cáo Quốc hội Khóa XVI tại Kỳ họp thứ nhất năm 2026.
Lê Đỗ