Ảnh minh họa.
Theo báo cáo tổng kết, đánh giá việc thi hành Nghị định số 56/2011/NĐ-CP quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập, Bộ Y tế cho biết các lĩnh vực khác nhau có mức hưởng phụ cấp ưu đãi nghề trung bình và cơ cấu mức hưởng khác nhau do tác động của đặc thù của từng lĩnh vực.
Mức hưởng phụ cấp ưu đãi nghề trung bình của toàn ngành là 43,2%. Trong đó, mức hưởng chiếm tỷ lệ cao nhất là mức 40% (chiếm 60%), tiếp đến là mức hưởng 60% (chiếm 10,8%), mức 20% (chiếm 9,3%), mức hưởng 50% (chiếm 8,3%), mức 70% (chiếm 8,2%), mức 30% (chiếm 3,3%) và mức khác chiếm 0,1%.
Bộ Y tế cũng đánh giá mức hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề của một số lĩnh vực cụ thể. Theo đó, ở lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, mức hưởng phụ cấp ưu đãi nghề trung bình là 43,3%. Mức hưởng chiếm tỷ lệ cao nhất là mức 40%, tiếp đến là mức hưởng 60%, 20%, 50%, 70%, 30%.
Các lĩnh vực chuyên khoa khác nhau thì có cơ cấu mức hưởng khác nhau. Trong đó, đối với các lĩnh vực lao và bệnh phổi, phong và da liễu, tâm thần và bệnh nhiệt đới, thông tin cho thấy mức hưởng thể hiện rõ tính đặc thù của các lĩnh vực này.
Cụ thể, các lĩnh vực lao - phổi, tâm thần tập trung ở mức hưởng 70%; lĩnh vực chuyên khoa phong - da liễu thì tập trung ở mức 50%; lĩnh vực chuyên khoa các bệnh nhiệt đới thì tập trung ở mức hưởng 60%.
Các lĩnh vực chuyên khoa phong - da liễu, chuyên khoa các bệnh nhiệt đới cũng có tỷ lệ đáng kể ở mức hưởng 70% - mức hưởng của nhóm trực tiếp khám, điều trị, chăm sóc, phục vụ người bệnh phong, HIV/AIDS.
Các lĩnh vực chuyên khoa phổ biến khác như ngoại, sản, nhi, y học cổ truyền, phục hồi chức năng, mắt, răng - hàm mặt, tai - mũi - họng…, chủ yếu tập trung ở mức hưởng 40% nhưng cũng khác biệt giữa các chuyên khoa do các đặc thù của từng chuyên khoa.
Trong đó, chuyên khoa nhi tập trung ở mức hưởng 50%. Bên cạnh đó, mức hưởng 60% cũng chiếm tỷ lệ đáng kể do tác động của các nhóm chuyên khoa truyền nhiễm ở các bệnh viện nhi.
Ngoài ra, một số lĩnh vực chuyên khoa khác cũng có cơ cấu về mức hưởng đặc trưng riêng như lĩnh vực huyết học và truyền máu, lĩnh vực ung bướu, bỏng.
Với lĩnh vực dự phòng, mức hưởng phụ cấp ưu đãi nghề trung bình là 42,7% và cơ cấu các mức hưởng phụ cấp như sau: Mức hưởng chiếm tỷ lệ cao nhất là mức 40% (chiếm 69,3%), tiếp đến là mức hưởng 70%, mức 60%, 30%, 20%, 50% và mức khác.
Ở lĩnh vực kiểm nghiệm, mức hưởng phụ cấp ưu đãi nghề trung bình là 37%. Mức hưởng chiếm tỷ lệ cao nhất là 40% (chiếm 83,2%), tiếp đến là mức hưởng 20% (chiếm 15,8%), mức 70% (chiếm 0,6%).
Trong lĩnh vực giám định pháp y, mức hưởng phụ cấp ưu đãi nghề trung bình là 58,9%. Mức hưởng chiếm tỷ lệ cao nhất là mức 70%, tiếp đến là mức 30%, 40%, 20%.
Lĩnh vực giám định y khoa có mức hưởng phụ cấp ưu đãi nghề trung bình là 35,9% và cơ cấu các mức hưởng phụ cấp tập trung ở 2 mức 40% (chiếm 79,2%), mức 20% (chiếm 20,6%).
Tại Trạm y tế xã, mức hưởng phụ cấp ưu đãi nghề trung bình là 43,8%. Trong đó, mức hưởng chiếm tỷ lệ cao nhất là mức 40%, theo sau lần lượt là mức 20%, 30%, 60%, 50% và 20%.
Qua tổng kết, Bộ Y tế đánh giá, mặc dù chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập đã được ban hành từ năm 2011 với mức hưởng phụ cấp khá cao, tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện cho thấy các quy định hiện hành về phạm vi điều chỉnh, đối tượng thụ hưởng và mức phụ cấp ưu đãi theo nghề đã bộc lộ nhiều bất cập.
Theo nghiên cứu, đánh giá của Viện Chiến lược và chính sách y tế, một số công việc cần được xem xét, điều chỉnh mức hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề cho phù hợp với cơ cấu bệnh tật và định hướng phát triển ngành y tế.
Thu Hằng