Phát triển công nghệ cao và công nghiệp số: Chọn tính độc bản của Huế - Bài 1: Nền tảng có, nhưng chưa đủ mạnh

Phát triển công nghệ cao và công nghiệp số: Chọn tính độc bản của Huế - Bài 1: Nền tảng có, nhưng chưa đủ mạnh
3 giờ trướcBài gốc
Tỷ trọng công nghiệp công nghệ cao của thành phố Huế hiện chỉ chiếm 8 - 12%. Con số này chứng tỏ trình độ công nghệ công nghiệp của địa phương ở mức trung bình, với tỷ trọng công nghệ thấp còn khá lớn và công nghệ cao mới ở giai đoạn khởi đầu.
Cung cấp giải pháp số cho chính quyền và doanh nghiệp đang là xu hướng chính ở Huế
Nhận diện thực trạng
Trong bức tranh phát triển công nghiệp của thành phố Huế hiện nay, một thực tế dễ nhận thấy là lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao vẫn chưa hình thành rõ nét. Ngay cả xét dưới góc độ công nghiệp công nghệ cao theo Luật Công nghệ cao và tiêu chí của Bộ Khoa học và Công nghệ lại càng chưa đạt điểm. Những ngành như vi mạch, thiết bị bán dẫn, robot công nghiệp, thiết bị tự động hóa thông minh, vật liệu mới, công nghệ sinh học quy mô công nghiệp... vốn được xem là "xương sống" của công nghiệp công nghệ cao hiện đại nhưng gần như chưa xuất hiện ở quy mô sản xuất lớn trên địa bàn thành phố.
Đánh giá thực lực phát triển của thành phố Huế, PGS.TS. Trần Đình Thiên, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Trung ương nhận thấy, quy mô kinh tế của Huế không lớn, chưa đủ tạo lợi thế. Năm 2025, GRDP chiếm 0,7% GDP cả nước, đứng thứ 29/34 tỉnh, thành phố; chiếm 4,59% GRDP vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, đứng thứ 10/14. Mặt khác, trình độ phát triển kinh tế chưa cao, thể hiện rõ qua các số liệu cấu thành quy mô kinh tế cũng như cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế.
Dù vậy, nếu nhìn một cách công bằng, Huế không phải là "vùng trũng" về khoa học công nghệ. Nền tảng cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được hình thành tương đối rõ. Giai đoạn 2021 - 2025, thành phố triển khai 13 nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp quốc gia; tỷ lệ chi cho khoa học và công nghệ đạt khoảng 1,5% tổng chi ngân sách thường xuyên - một mức chi tương đối cao so với nhiều địa phương.
Đáng chú ý, trong lĩnh vực chuyển đổi số, Huế đang là một trong những điểm sáng của cả nước. Tỷ lệ dịch vụ công trực tuyến đạt hơn 97%; gần như toàn bộ người trưởng thành sử dụng điện thoại thông minh; chỉ số chuyển đổi số liên tục nằm trong nhóm dẫn đầu. Kinh tế số ước chiếm khoảng 13% GRDP, cùng với đó là hàng chục dự án khởi nghiệp đổi mới sáng tạo được hỗ trợ.
Theo nhìn nhận của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Nguyễn Xuân Sơn, cần phân biệt rõ rằng các kết quả về chuyển đổi số và kinh tế số nêu trên là nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp số. Nhưng kết quả này chưa đồng nghĩa với việc đã hình thành ngành công nghiệp công nghệ cao theo nghĩa đầy đủ về sản xuất sản phẩm công nghệ cao quy mô lớn.
Các hoạt động công nghệ cao trên địa bàn hiện mới tập trung ở một số doanh nghiệp dược phẩm, vật liệu xây dựng chất lượng cao, thiết bị điện tử quy mô vừa và nhỏ. Phần lớn vẫn dừng ở mức ứng dụng, gia công hoặc tích hợp công nghệ, chưa tạo ra những sản phẩm "lõi" mang tính dẫn dắt thị trường. Điều này đồng nghĩa với việc, ở thời điểm này, Huế chưa có đủ điều kiện để bước vào cuộc đua công nghiệp công nghệ cao quy mô lớn như một số trung tâm công nghiệp ở các địa phương lớn khác.
Sản phẩm công nghệ xanh đang là xu hướng được các doanh nghiệp nhắm đến
Những "nút thắt" chưa dễ tháo gỡ
Không khó để nhận diện những lực cản khiến công nghiệp công nghệ cao của Huế chưa thể bứt phá. Trước hết là câu chuyện về doanh nghiệp. Trong số các chỉ tiêu phát triển khoa học - công nghệ giai đoạn 2021 - 2025, nhiều mục tiêu quan trọng chưa đạt, nhất là tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu phát triển (R&D) thường xuyên. Mức độ đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp còn hạn chế ở khối doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong khi đây là lực lượng chiếm hơn 90% tỷ trọng của nền kinh tế địa phương.
Việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất mới đạt khoảng 70% kế hoạch đề ra, cho thấy quá trình chuyển đổi công nghệ vẫn diễn ra chậm, thiếu tính lan tỏa. Điều này kéo theo hệ quả là đóng góp của khu vực công nghệ cao vào tăng trưởng kinh tế còn khiêm tốn, chưa tạo được "cú hích" về năng suất.
Một vấn đề khác mang tính nền tảng là nguồn nhân lực. Dù sở hữu hệ thống đào tạo lớn là Đại học Huế, nhưng nguồn nhân lực công nghệ cao chuyên sâu, đặc biệt trong các lĩnh vực như thiết kế vi mạch, tự động hóa, vật liệu mới hay công nghệ sinh học công nghiệp... vẫn còn thiếu. Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu thực tế của doanh nghiệp chỉ khoảng 70%. Đặc biệt, Huế vẫn chưa hình thành được đội ngũ chuyên gia đầu ngành có khả năng dẫn dắt công nghệ. Mục tiêu đến năm 2025, Huế có 10.000 người làm việc trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ số vẫn chưa đạt như kỳ vọng.
Hạ tầng cũng là một điểm nghẽn được nhìn nhận. Đến nay, Huế vẫn chưa có khu công nghệ cao theo mô hình tập trung được phê duyệt. Các doanh nghiệp công nghệ cao hiện phân tán trong các khu công nghiệp hiện hữu, khiến việc kết nối, chia sẻ hạ tầng nghiên cứu - thử nghiệm gặp nhiều hạn chế.
Trong khi đó, sự tham gia của khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) vào các lĩnh vực công nghệ cao vẫn còn mờ nhạt. Mối liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước và hệ thống viện, trường chưa đủ chặt chẽ để tạo hiệu ứng lan tỏa công nghệ.
Đặt trong bối cảnh cạnh tranh khu vực, Huế đang đối mặt với áp lực không nhỏ khi các địa phương lân cận đã sớm hình thành khu công nghệ cao và hệ sinh thái doanh nghiệp tương đối hoàn chỉnh.
Tỷ lệ ứng dụng công nghệ cao trong doanh nghiệp vẫn còn thấp
Chọn "đặc sắc" thay vì chạy theo "làn sóng lớn"
Huế chưa sẵn sàng và cũng không nhất thiết phải đi theo con đường phát triển công nghiệp công nghệ cao quy mô lớn. Thay vào đó, lợi thế của Huế nằm ở một hướng đi khác, đó là phát triển theo chiều sâu, dựa trên nền tảng khoa học - giáo dục, y tế, văn hóa - du lịch và đổi mới sáng tạo. Đây là những lĩnh vực mà Huế có "căn cốt" riêng, khó trộn lẫn với các trung tâm công nghiệp khác.
Thực tế, nhiều doanh nghiệp công nghệ số tại Huế đã chọn cách phát triển linh hoạt, tập trung vào gia công phần mềm, giải pháp số cho chính quyền và doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp trong lĩnh vực y sinh, dược phẩm cũng đang từng bước ứng dụng công nghệ cao để nâng cao giá trị sản phẩm, thay vì mở rộng quy mô sản xuất đại trà.
TS. Cung Trọng Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển thành phố Huế vẫn bảo vệ quan điểm rằng, Huế chưa phải là địa phương có thế mạnh để phát triển công nghiệp bán dẫn hay vi mạch... Có nghĩa Huế không cần trở thành trung tâm sản xuất phần cứng quy mô lớn, mà có thể đi theo hướng cung cấp giải pháp, dịch vụ công nghệ cho những ngành, lĩnh vực trọng yếu, thế mạnh như du lịch dịch vụ, giáo dục, y tế bằng cách tận dụng giá trị chất xám hơn là dây chuyền công nghệ lớn.
Ở góc độ quản lý, các cơ quan chức năng như ngành công thương, khoa học công nghệ, tài chính cũng nhìn nhận rõ điều này. Định hướng phát triển công nghiệp công nghệ cao của Huế trong thời gian tới sẽ không dàn trải, mà tập trung vào những lĩnh vực có lợi thế so sánh và khả năng liên kết cao với hệ thống đào tạo - nghiên cứu.
PGS.TS. Trần Đình Thiên cho rằng, với mặt bằng xuất phát chưa cao nhưng có những đặc điểm và lợi thể riêng, Huế cần tạo thế "vượt trội" - đột phá mạnh, tốc độ cao và hiệu quả. Muốn vậy, Huế phải dám "quyết chọn khác thường", tạo bước chuyển mang tính đột biến "phi tuyến tính", đó là tiến vượt công nghệ cao, kinh tế số.
Nói cách khác, thay vì "chạy đua" theo mô hình đại công nghiệp, Huế đang lựa chọn cách đi thận trọng hơn. Đó là tích lũy nền tảng, xác định thế mạnh và phát triển theo hướng bền vững. Đây được xem là chiến lược phù hợp với điều kiện thực tế, giúp Huế hạn chế nguy cơ đầu tư dàn trải, hiệu quả chưa tương xứng.
(còn nữa)
Bài, ảnh: HOÀI THƯƠNG
Nguồn Thừa Thiên Huế : https://huengaynay.vn/kinh-te/khoa-hoc-cong-nghe/phat-trien-cong-nghe-cao-va-cong-nghiep-so-chon-tinh-doc-ban-cua-hue-bai-1-nen-tang-co-nhung-chua-du-manh-165880.html