Thành phố Hồ Chí Minh được ghi nhận nằm trong nhóm 15 trung tâm tài chính có triển vọng phát triển mạnh trong 2-3 năm tới. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)
Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân mở ra một giai đoạn mới trong tư duy và hành động phát triển kinh tế, khi khu vực tư nhân lần đầu tiên được xác định là “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế.
Từ định hướng chiến lược đến chương trình hành động cụ thể tại Thành phố Hồ Chí Minh, hành trình đưa nghị quyết vào cuộc sống đang đặt ra yêu cầu cải cách đồng bộ, thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn, để kinh tế tư nhân thực sự bứt phá và đóng vai trò dẫn dắt tăng trưởng.
Chính quyền hành động nhanh, quyết liệt
Với hơn một nửa số doanh nghiệp hiện có của cả nước đang tập trung trên địa bàn, Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đặc biệt trong hiện thực hóa các mục tiêu phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68-NQ/TW.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi nghị quyết được ban hành và mô hình chính quyền hai cấp đi vào hoạt động ổn định, Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt tay triển khai các hành động cụ thể đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Trong số 2 triệu doanh nghiệp tư nhân mà Nghị quyết 68-NQ/TW đề ra vào năm 2030, Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu có 750.000 doanh nghiệp tư nhân hoạt động, đóng góp 55-58% GRDP và 50-55% tổng thu ngân sách, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 10-12 %/năm.
Đến năm 2045, số doanh nghiệp tư nhân của thành phố dự kiến đạt từ 1,05-1,25 triệu doanh nghiệp. Đây là chỉ tiêu được Thành phố Hồ Chí Minh đề ra trong Quyết định số 2205/QĐ-UBND triển khai chương trình hành động của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh về thực hiện Nghị quyết 68-NQ/TW ban hành tháng 10/2025.
Văn bản này xác định rõ yêu cầu xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và quyền sở hữu tài sản hợp pháp của doanh nghiệp; coi phát triển kinh tế tư nhân là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài.
Thành phố yêu cầu các sở, ngành và địa phương khẩn trương xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW. Mục tiêu là tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp an tâm đầu tư, mở rộng sản xuất, nhất là trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh định hướng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và đầu mối kết nối của khu vực phía Nam.
Robot "lễ tân" hướng dẫn người dân đến đúng khu vực làm thủ tục theo lĩnh vực. (Ảnh: Xuân Anh/TTXVN)
Một trong những trọng tâm là cải cách hành chính thực chất. Thành phố đặt mục tiêu cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục và 30% chi phí tuân thủ pháp luật; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong quản lý nhà nước.
Các lĩnh vực gia nhập-rút lui khỏi thị trường, đất đai, đầu tư, xây dựng, thuế, hải quan, bảo hiểm, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn được yêu cầu rà soát, minh bạch hóa quy trình.
Ông Nguyễn Văn Được, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều lần nhấn mạnh Thành phố Hồ Chí Minh có lợi thế để thu hút doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đầu tư, kinh doanh nhưng nếu thủ tục hành chính rườm rà, doanh nghiệp sẽ sớm rời đi.
Do đó, trong hầu hết các hội nghị đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, lãnh đạo Thành phố đều cam kết sẽ thúc đẩy chuyển đổi từ nền hành chính quản lý sang phục vụ; đồng thời yêu cầu lãnh đạo từ cấp sở, ngành đến công chức tại cơ sở phải thay đổi tư duy trong giải quyết thủ tục, xem doanh nghiệp, người dân là trung tâm để phục vụ.
Song song đó, Thành phố Hồ Chí Minh cũng tiếp tục kiến nghị Trung ương hoàn thiện khung chính sách về tài chính, thuế, kế toán và quản lý tài chính, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh chuyển đổi, mở rộng quy mô hoạt động.
Việc thúc đẩy thay đổi nhận thức và tư duy kinh doanh cũng được đặt ra như một yêu cầu căn cơ, hướng đến hình thành cộng đồng doanh nghiệp hiện đại, có khả năng hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (HUBA), cho rằng điểm cốt lõi của Nghị quyết 68-NQ/TW nằm ở việc cụ thể hóa tinh thần “quan trọng nhất” bằng cơ chế phân bổ nguồn lực và giao nhiệm vụ phù hợp. Chỉ khi khu vực tư nhân thực sự được tiếp cận bình đẳng về đất đai, tín dụng, cơ hội đầu tư và thông tin thị trường thì vai trò động lực mới được phát huy đầy đủ.
Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng. (Ảnh: Vietnam+)
Thời gian qua, lãnh đạo lãnh đạo thành phố và các sở, ngành đã tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn lớn nhất của khu vực tư nhân: đất đai, vốn và nhân lực chất lượng cao. Nhiều dự án chậm triển khai do vướng mắc pháp lý đã được rà soát, tổng hợp và kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý.
Các mô hình hợp tác công-tư được thúc đẩy mạnh mẽ hơn, mở ra cơ hội để doanh nghiệp tham gia các dự án hạ tầng, năng lượng, công nghệ thông tin, đường sắt đô thị và công nghiệp mũi nhọn.
Cùng với đó, cơ chế hỗ trợ lãi suất đối với các dự án đầu tư thuộc lĩnh vực ưu tiên phát triển kinh tế-xã hội tiếp tục được duy trì. Các chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo có phát sinh thu nhập được triển khai, tạo động lực cho hệ sinh thái khởi nghiệp.
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, song song với Nghị quyết 68-NQ/TW, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết 98/2023/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh. Theo đó, thành phố triển khai chính sách vay kích cầu phục vụ chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc.
Doanh nghiệp đầu tư vào logistics, hệ thống kho lạnh, kho đông có thể được hỗ trợ lãi suất 50%, qua đó giảm chi phí, nâng cao năng lực quản trị chuỗi cung ứng và tăng sức cạnh tranh.
Ông Nguyễn Đặng Hiến, Tổng Giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Sản xuất và Thương mại Tân Quang Minh (Bidrico), đánh giá các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp từ Trung ương đến địa phương trong thời gian qua cho thấy định hướng tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.
Khi chuyển đổi số và phát triển bền vững được đặt làm trục chính, khu vực kinh tế tư nhân có cơ hội nâng cao giá trị gia tăng thay vì chỉ phát triển quy mô theo chiều rộng.
Khu công nghiệp Hiệp Phước (xã Hiệp Phước) là khu công nghiệp lớn nhất Thành phố Hồ Chí Minh sở hữu vị trí đắc địa bên sông Soài Rạp. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)
Trước khi có Nghị quyết 68-NQ/TW, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã chủ động triển khai các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh; xây dựng kế hoạch cải thiện Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), rà soát và tháo gỡ khó khăn pháp lý cho dự án đầu tư. Những bước đi này tạo tiền đề quan trọng để Nghị quyết 68-NQ/TW khi được ban hành, nhanh chóng đi vào cuộc sống.
Các doanh nghiệp cho rằng từ nghị quyết đến hành động là chặng đường đòi hỏi quyết tâm chính trị cao, sự phối hợp đồng bộ và cơ chế thực thi hiệu quả.
Với vai trò đầu tàu kinh tế, Thành phố Hồ Chí Minh đang cho thấy nỗ lực cụ thể hóa tinh thần cải cách, nhằm tạo môi trường thuận lợi nhất cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững và thực sự trở thành động lực chủ đạo của tăng trưởng.
Rút ngắn khoảng cách chính sách và thực tế
Nhà nước đã đề ra định hướng chiến lược và những mục tiêu rất cụ thể cho phát triển kinh tế tư nhân, nhưng thách thức lớn nhất hiện nay là bảo đảm các chính sách được triển khai đồng bộ và phát huy hiệu quả trong thực tế.
Cộng đồng doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đặt nhiều kỳ vọng vào các chương trình hành động của Trung ương và địa phương, song cũng thẳng thắn nhìn nhận vai trò chủ động của địa phương trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh, hấp thụ chính sách.
Ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (HUBA), cho rằng để cụ thể hóa vai trò của khu vực tư nhân, phải có sự vào cuộc đồng bộ từ cơ chế, chính sách đến chương trình hành động cụ thể. Theo đó, cần phân loại doanh nghiệp tư nhân theo quy mô, năng lực để có chính sách phù hợp.
Đối với các doanh nghiệp lớn, có đủ năng lực tài chính và quản trị, có thể mạnh dạn giao thực hiện các dự án hạ tầng quy mô lớn như đường sắt đô thị, với tổng vốn lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được thiết kế chính sách hỗ trợ riêng, nhất là trong việc tiếp cận tín dụng và kết nối ngân hàng.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được thiết kế chính sách hỗ trợ riêng, nhất là trong việc tiếp cận tín dụng và kết nối ngân hàng. (Ảnh: Vietnam+)
Một trong những công cụ hỗ trợ quan trọng được nhấn mạnh là việc hình thành và đưa vào hoạt động Trung tâm tài chính quốc tế, tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận các quỹ đầu tư trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, để tận dụng được cơ hội này, doanh nghiệp phải nâng cao nội lực, minh bạch hệ thống sổ sách, chuẩn hóa quản trị và xây dựng các dự án có tính khả thi cao.
Hiệp hội cũng nhấn mạnh yêu cầu doanh nghiệp phải tự thay đổi, nâng cao năng lực quản trị, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao nếu muốn tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Việc phát triển kinh tế tư nhân, theo đó, không chỉ là câu chuyện về chính sách ưu đãi mà là quá trình tái cấu trúc đồng bộ từ phía Nhà nước và bản thân doanh nghiệp nhằm hình thành các doanh nghiệp dẫn dắt, xây dựng thương hiệu quốc gia và nâng cao vị thế của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Từ góc nhìn một doanh nhân, ông Nguyễn Đặng Hiến cho rằng khoảng cách giữa chính sách và khả năng tiếp nhận và chuyển hóa vẫn là vấn đề đáng bàn. Chính sách chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp có đủ năng lực tiếp cận và hấp thụ.
Ví dụ, tín dụng xanh đang được khuyến khích mở rộng, nhưng để tiếp cận nguồn vốn này, doanh nghiệp phải đáp ứng các tiêu chí nghiêm ngặt về môi trường, quản trị và minh bạch. Điều đó đồng nghĩa với việc phải tái cấu trúc quy trình sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao chuẩn mực quản trị. Nếu không có sự chuẩn bị bài bản, cơ hội vẫn chỉ tồn tại trên giấy.
Do đó, yêu cầu đặt ra là sự đồng hành thực chất giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đơn giản hóa thủ tục và nâng cao tính minh bạch; trong khi doanh nghiệp phải chủ động chuyển đổi, nâng cao năng lực quản trị để đáp ứng các chuẩn mực mới. Khi hai chiều này gặp nhau, các chủ trương về chuyển đổi số, kinh tế số và tăng trưởng xanh mới trở thành động lực thực sự cho phát triển.
Trong một nền kinh tế đang chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và bền vững, khả năng hấp thụ chính sách và chuyển hóa áp lực thành động lực cải cách sẽ quyết định sức cạnh tranh dài hạn của cả hệ thống.
Sản xuất kính nổi tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Kính nổi siêu trắng Phú Mỹ (PFG), Khu công nghiệp Phú Mỹ 2 mở rộng. (Ảnh: Hoàng Nhị/TTXVN)
Là một chuyên gia nhiều kinh nghiệm thực tiễn, ông Võ Quang Huệ, Chủ tịch FoundryAI Vietnam, Cố vấn cấp cao Tập đoàn Vingroup, cho rằng cần nhìn nhận thẳng thắn những thách thức trong quá trình đưa nghị quyết vào cuộc sống.
Kỳ vọng của cộng đồng doanh nghiệp vào các nghị quyết chiến lược là rất lớn, song rất khó để đòi hỏi kết quả cụ thể trong thời gian ngắn, bởi thay đổi cốt lõi đầu tiên là thay đổi về tư duy của cả hệ thống, từ lãnh đạo đến đội ngũ thực thi. Khi tư duy thay đổi, nguồn nhân lực trong hệ thống cũng phải được nâng cao kỹ năng chuyên môn ở từng lĩnh vực.
Ông Võ Quang Huệ nhấn mạnh để tạo nền tảng cho một giai đoạn phát triển bền vững, hệ thống công quyền cần ngày càng chú trọng yếu tố kỹ trị và chuyên môn trong điều hành. Cán bộ thực thi chính sách cần vừa “hồng,” vừa “chuyên,” nghĩa là vừa phải có phẩm chất chính trị tốt, vừa có năng lực chuyên môn. Đội ngũ cán bộ phải hiểu rõ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp thì các chính sách, đề án mới được triển khai chính xác, hiệu quả và có sức lan tỏa.
Theo ông Võ Quang Huệ, với những chuyển đổi tư duy mạnh mẽ từ lãnh đạo cấp cao trong thời gian qua, nền kinh tế có cơ sở để kỳ vọng vào một giai đoạn phát triển tích cực hơn trong tương lai. Ở góc độ nhu cầu hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân, một trong những ưu tiên hàng đầu là xây dựng hệ thống pháp luật minh bạch, đồng bộ.
“Hiện nay còn tồn tại tình trạng chồng chéo giữa các luật, quy định và thông tư. Cần rà soát để bảo đảm tính thống nhất, rõ ràng của môi trường pháp lý. Sự minh bạch về chính sách không chỉ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước mà còn là yếu tố quan trọng để các nhà đầu tư nước ngoài mở rộng hoạt động tại Việt Nam,” ông Võ Quang Huệ nêu góc nhìn.
Bên cạnh đó, chuyên gia cũng nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi hệ thống công quyền từ “quản lý” sang “phục vụ,” phù hợp với tinh thần chỉ đạo gần đây của Tổng Bí thư Tô Lâm. Nếu thực hiện đúng tinh thần đó, hệ thống sẽ vận hành hiệu quả hơn, gần dân hơn và nhận được sự đồng hành mạnh mẽ của người dân và doanh nghiệp.
Có thể thấy, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn không phải là rào cản bất biến mà là thách thức cần được xử lý bằng cải cách liên tục và nâng cao năng lực thực thi. Khi tư duy quản lý chuyển sang tư duy phục vụ, khi doanh nghiệp chủ động nâng chuẩn quản trị và minh bạch, các nghị quyết sẽ không dừng ở văn bản định hướng mà trở thành động lực thực chất cho tăng trưởng bền vững của nền kinh tế./.
(TTXVN/Vietnam+)