Tranh minh họa: Hoài Anh
Ông đứng nhìn phía những dãy núi mờ xa phía Tây. Thế rồi vào một buổi sáng sớm khi sương còn giăng mờ, ba thức dậy, dắt chiếc Honda 67 ra khỏi hiên nhà. Ông kiểm tra lại dây ràng, buộc thêm cái bình tông đựng nước, ổ bánh mì. Tiếng máy xe nổ vang trong không gian tĩnh mịch như một lời thông báo: đi tầm xuân.
Thường thì phải đến chiều muộn ngày hôm sau, khi hoàng hôn bắt đầu đổ những vệt màu tím thẫm xuống dòng sông Cà Ty, ba tôi mới về đến nhà. Và trên yên sau cột chặt bằng những sợi dây kẽm chắc chắn là một “khối” xù xì, xám xịt: mai rừng. Lần đầu nhìn thấy mai rừng khi còn nhỏ, tôi đã thất vọng tràn trề. Trong đầu óc non nớt của một đứa trẻ, hoa tết phải rực rỡ, phải xanh mướt. Còn cành mai ba mang về, thú thật trông chẳng khác cành củi khô vừa lượm trong hốc đá. Nó uốn lượn một cách kỳ dị, da dẻ sần sùi và tuyệt nhiên không thấy một mầm xanh nào.
Nhưng ba tôi thì khác. Ông dắt xe vào sân, chân tay rã rời vì đi đường xa nhưng đôi mắt thì rạng rỡ lạ thường. Ông nhẹ nhàng tháo dây, nâng niu cành mai như một báu vật vừa được khai quật, đặt xuống sân gạch. Mùi nhựa cây ứa ra từ vết cắt quyện với mùi bụi đường, xăng xe và sương gió vùng cao tạo nên một thứ mùi đặc quánh nồng nàn. Ba dùng một bó rơm khô châm lửa đốt lên rồi hơ nhẹ phần gốc mai. Ngọn lửa liếm vào lớp vỏ sần sùi sực nức cả góc sân. Ba bảo thui gốc để giữ nhựa, “nhốt” cái tinh túy của rừng lại bên trong không cho nó thoát ra ngoài quá nhanh. Lúc ấy, nhìn bóng ba in trên vách nhà trong ánh lửa rơm bập bùng, tôi bỗng thấy ông giống vị phù thủy đang làm phép. Và cành củi khô kia là thực thể sống đang cựa mình chờ đợi một tiếng gọi thiêng liêng để trỗi dậy.
Trong cái tĩnh lặng tháng chạp, cành mai rừng là đồng hồ cát đo đếm thời gian trôi về phía giao thừa bằng sự nảy mầm của nụ xanh li ti. Và tôi dần hiểu, Tết không phải là thứ có sẵn ngoài chợ. Tết là thứ mà người ta phải lặn lội, chăm chút và chờ đợi bằng trái tim mình.
*
Sau khi cành mai được thui gốc và cắm vào chiếc ché sành đựng đầy nước mưa, cả nhà tôi bước vào một giai đoạn chăm sóc mà ba gọi là “chăm con mọn”. Từ lúc này cho đến tết, mỗi ngày đi làm về, việc đầu tiên của ba là tưới nước. Không phải tưới ào ào cho xong chuyện, mà dùng cái bình xịt nhỏ phun từng tia nước li ti như sương sớm lên khắp các kẽ lá, nách cành. Ba quan sát từng chuyển động nhỏ nhất của cành mai. Nếu thấy đầu nụ hơi thâm, ông sẽ lo lắng đến mất ăn mất ngủ. Nếu thấy vỏ lụa bắt đầu nứt, ông lại cười khà khà chế bình trà làm một ngụm. Nhưng cái khó nhất là kỹ thuật điều khiển thời gian. Có năm gió bấc về muộn, trời hầm hập, mai có nguy cơ bung nở ngay từ rằm tháng chạp. Gương mặt ba lo lắng thấy rõ. Ông chạy tới chạy lui, hỏi han mấy cụ già trong xóm về chiêu “kiềm” mai. Nào là đắp đá lạnh quanh gốc, dùng vải bao bố che chắn nắng. Ngược lại, có những năm trời lạnh tái tê, mai nằm im lìm “nín thở”, không chịu bung vỏ lụa. Ba lại lăng xăng đốt đống củi dưới gốc, rồi pha nước ấm tưới vào gốc, hi vọng hơi ấm sẽ đánh thức giấc ngủ của loài hoa núi rừng.
Khi nụ hoa bung cánh đúng đêm giao thừa, cả phòng khách bừng sáng. Sắc vàng mai rừng lạ lắm. Không vàng rực rỡ kiểu phô trương mà là một sắc vàng thanh tao, sâu lắng. Hoa mai rừng không thơm nồng nàn như hoa hồng. Hương của nó rất kín đáo, phải thật sự tĩnh tâm, áp sát mũi vào cánh hoa mỏng manh ấy mới cảm nhận được thứ mùi thanh tao. Có chút gì như vị mật ong rừng, lại có chút hăng hắc nhựa sống đang trỗi dậy từ lớp vỏ xù xì. Mai rừng chỉ nở năm cánh. Mỗi cánh hoa đều chứa đựng cái nắng gió, cái khí trời xứ Phan.
*
Những cánh rừng bao năm hào phóng ban tặng lộc xuân cho con người, nay đã bắt đầu khép cửa. Những cội mai già nằm sâu trong hốc đá chỉ còn là ký ức trong câu chuyện kể nhuốm màu sương khói của bậc cao niên. Sự khan hiếm mai rừng biến nó thành một thứ xa xỉ phẩm, rồi dần dần người ta không còn tìm thấy những cành mai “đúng chất” để mang về chơi. Thay vào đó là mai vườn, mai chậu với những vùng chuyên canh miệt vườn. Những gốc mai được nghệ nhân uốn nắn, cắt tỉa, tạo dáng tam đa, ngũ phúc, thác đổ... Nhà tôi cũng không nằm ngoài quy luật ấy.
Kể từ khoảng hai mươi tháng chạp, không khí tết xứ Phan bắt đầu đổ dồn về phía hai bên bờ sông Cà Ty. Những nhà vườn khắp nơi đánh xe chở mai về trưng bày. Một dải lụa vàng rực kéo dài dọc theo hai bờ sông. Người mua kẻ bán xôn xao cả sông nước. Cái mùi tết lúc này không còn là mùi nhựa cây rừng hay mùi khói rơm thui gốc. Nó là mùi bùn đất mới xới, mùi những túi phân hữu cơ bón thúc và mùi tính toán, toan tính. Người làm ăn khá giả chọn những chậu mai cao quá đầu người, nụ đóng từng chùm như chuỗi ngọc, giá bằng cả mấy chỉ vàng. Người lao động thì đợi đến tận chiều ba mươi, khi nắng đã nhạt và những xe hoa bắt đầu thu dọn, họ mới dám đến trả giá cành mai chặt dở, mang về cắm trong cái bình gốm cũ cho có không khí xuân.
Tôi lách người len lỏi giữa những hàng mai cao thấp. Mắt tròn xoe ngắm mai và tai nghe những nghệ nhân giới thiệu về kỹ thuật ghép mai, kỹ thuật cho ra hoa đúng ngày bằng các loại thuốc kích thích. Tôi lại nhớ về những ngày ba phải đốt lửa, đắp đá lạnh để “chiến đấu” với thời tiết. Đó là cuộc đối thoại giữa người và trời đất. Bây giờ, chơi mai đôi khi lại là sự phô diễn kỹ thuật và tiền bạc. Nhưng dù mai rừng hay mai vườn, dù cành củi khô hay chậu bonsai tiền triệu thì sắc vàng hoa mai vẫn là linh hồn không thể thiếu của tết xứ Phan. Khi cánh hoa đầu tiên nở bung vào đêm giao thừa, người ta thấy lòng mình nhẹ nhõm. Sắc vàng xóa tan những nhọc nhằn một năm vất vả và như lời hứa về khởi đầu mới rực rỡ hơn.
*
Tết này xứ Phan vẫn lồng lộng gió bấc. Cái thứ gió hào phóng quật vào hàng dương mang theo vị mặn mòi biển cả len lỏi vào từng kẽ cửa. Tôi ngồi bên ba dưới hiên nhà nhìn những cánh hoa mai vàng rực đang rung rinh trước gió. Bất chợt tôi nhận ra mình không còn quá khát khao phải tìm cho bằng được một cành mai rừng đích thực bằng xương bằng thịt nữa. Bởi lẽ trong suốt hành trình trưởng thành, tôi đã kịp “chiết” một nhành mai rừng từ ký ức của ba để trồng vào tâm khảm mình. Mùi mai rừng hóa ra không phải là một thực thể vật lý tan biến khi rừng khép cửa. Nó là mùi của sự kiên nhẫn khi ba đứng đợi sương đêm. Là mùi của sự trân trọng khi ba nâng niu từng nụ nhỏ. Và là mùi của lòng biết ơn khi ta đón nhận quà tặng từ thiên nhiên. Tôi cầm lấy bàn tay gầy guộc nhăn nheo của ba. Bàn tay từng cầm dao mở lối giữa rừng sâu, từng thui gốc mai bằng lửa rơm nồng đượm. Đôi mắt tinh anh đã phủ lớp màng đục thời gian. Trí óc đã già nua lẫn lộn nhớ quên.
Ngày mai nắng xuân sẽ lại tràn ngập những con phố xứ Phan. Người ta sẽ lại tất tả ngược xuôi. Những chậu mai sẽ lại khoe sắc rực rỡ khắp các ngả đường. Nhưng tôi biết, giữa những nhộn nhịp ấy vẫn có những người như ông luôn giữ riêng cho mình một nhành mai ẩn hiện trong tâm tưởng. Cảm ơn ba vì đã chở cả một mùa mai rừng về trong tuổi thơ con, để giờ đây, con biết cách tự nở hoa giữa lòng phố xuân.
Nguyễn Thành Tài