Cái giá của sự thiếu hiểu biết
Ngồi lặng trong khu lao động của phân trại số 1, Trại giam Xuân Nguyên (Hải Phòng), phạm nhân Nguyễn Thị Tố (SN 1965, quê Hải Phòng) chậm rãi kể về sai lầm của đời mình.
Bà Tố từng có thời gian công tác trong ngành giáo dục trước khi nghỉ việc để kinh doanh tại nhà. Năm 2008, ở tuổi 42, bà bị cuốn vào một đường dây đưa học sinh đi học và làm việc ở nước ngoài.
Phạm nhân Nguyễn Thị Tố.
Theo lời kể của bà Tố, ban đầu bà chỉ đóng vai trò giới thiệu học sinh cho một trung tâm hướng nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh. Bà cho biết, mình không trực tiếp cầm tiền, chỉ là người kết nối, với lời hứa nếu học sinh đi được thì sẽ nhận vài triệu đồng tiền công.
“Tôi nghĩ rất đơn giản, mình không cầm tiền của ai thì sẽ không phải chịu trách nhiệm. Nhưng khi vào vòng tố tụng mới hiểu rằng chỉ cần tham gia vào quá trình đó thì cũng đã phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”, bà Tố kể lại.
“Đơn hàng” đầu tiên mà bà tham gia khi đó có khoảng 150 học sinh đăng ký. Tuy nhiên, những người cầm đầu thực sự của đường dây đã bỏ trốn. Khi cơ quan chức năng vào cuộc, bà và một giám đốc trung tâm trở thành hai bị cáo phải chịu trách nhiệm trong vụ án.
Tháng 4/2008, khi đang đi cùng bạn bè, bà bất ngờ nhận được yêu cầu lên làm việc với cơ quan công an. Bà nghĩ chỉ là làm việc trong ngày, nhưng sau đó bị tạm giữ và chính thức bị khởi tố.
“Lúc đó tôi hoàn toàn vô tư, không nghĩ mình phạm tội. Khi vào làm việc hiểu mọi chuyện thì đã quá muộn”, bà Tố kể.
Ban đầu, tòa sơ thẩm tuyên án 20 năm tù. Tuy nhiên sau quá trình xét xử phúc thẩm, khi những đối tượng cầm đầu vẫn chưa bị bắt, mức án của bà Tố bị tăng lên tù chung thân.
“Nghe tuyên án chung thân, tôi ngất ngay tại tòa. Phải mất cả tháng sau mới có thể lấy lại tinh thần”, bà nhớ lại.
Ngày bị bắt, con của bà Tố đứa 15 tuổi, đứa 8 tuổi. Bà không kịp nói lời nào với gia đình trước khi bị dẫn giải.
Sau 18 tháng tạm giam, bà mới có cuộc gặp đầu tiên với người thân. “Chỉ nhìn nhau qua cửa kính. Con cái chỉ biết khóc”, bà Tố nói.
Những năm sau đó, biến cố gia đình tiếp tục xảy ra. Năm 2017, chồng bà quyết định ly hôn sau nhiều năm chờ đợi.
“Tôi không trách anh ấy. Người có lỗi đầu tiên trong gia đình là tôi”, bà Tố nói.
Đến nay, bà Tố đã chấp hành án hơn 18 năm, được giảm án nhiều lần và hy vọng nếu tiếp tục cải tạo tốt, Tết năm 2028 có thể được trở về nhà. Ở tuổi ngoài 60, điều khiến bà Tố trăn trở nhất không phải là cuộc sống vật chất sau khi ra tù, mà là sự nhìn nhận của xã hội.
Một lần sa ngã, trả giá cả tuổi xuân
Phạm nhân Trần Mộng Thơ (SN 1984, quê TP.HCM) vào trại khi tuổi đời còn rất trẻ, phía sau là hai đứa con thơ dại. Bản án tù chung thân về tội mua bán trái phép chất ma túy khép lại tuổi thanh xuân của cô chỉ sau một quyết định thiếu suy nghĩ.
Ngày 18/3/2015, Thơ bị bắt tại Quảng Ninh khi đang trên đường từ Móng Cái về Hạ Long. Tang vật là 2kg ma túy đá. “Lúc đó tôi không còn suy nghĩ được gì. Mọi thứ sụp xuống trong vài phút”, Thơ kể, giọng chùng lại.
Phạm nhân Trần Mộng Thơ.
Trước đó không lâu, cuộc sống của Thơ rơi vào giai đoạn khó khăn nhất. Cô vừa sinh con thứ hai, chưa có việc làm ổn định, chồng đi làm xa. Hai đứa trẻ, một 6 tuổi, một mới hơn 10 tháng, là nỗi lo thường trực mỗi ngày. Trong một lần ra Móng Cái chơi, Thơ quen một người phụ nữ cùng giọng miền Nam. Những cuộc điện thoại qua lại dần trở thành lời rủ rê vận chuyển ma túy với lời hứa “việc nhẹ, tiền nhanh”.
“Tôi nghĩ chỉ làm một lần. Tôi không hiểu hết mức độ nghiêm trọng của việc mình làm”, Thơ nói. Cô cho rằng mình chỉ là người vận chuyển thuê, không phải chủ mưu, và không hình dung được rằng số lượng 2kg ma túy có thể đồng nghĩa với án tù chung thân.
Tại phiên tòa, Thơ gần như khủng hoảng. “Tôi chỉ biết khóc. Tôi không nghĩ mình sẽ phải trả giá đắt như vậy”, Thơ nói.
Sau khi vào trại được ít lâu, mẹ chồng đưa hai con ra thăm. “Đó là lần đầu tiên các con biết mẹ không còn “đi làm xa. Nhìn con, tôi không dám ôm chặt vì thấy mình không xứng. Cháu lớn đã hiểu chuyện, còn cháu bé vẫn ngơ ngác. Khi ấy tôi mới thấm hết cái giá của sự nông nổi”, nữ phạm nhân này kể.
11 năm qua đi, hai con cô đã lớn: một cháu 17 tuổi, một cháu 12 tuổi. Các con vẫn đều đặn lên thăm mẹ mỗi tháng. Nhưng Thơ hiểu, có những khoảng trống không gì bù đắp được – những buổi họp phụ huynh, những lần con ốm sốt, những cột mốc trưởng thành… đều vắng bóng người mẹ.
Nỗi đau càng sâu khi bố cô qua đời trong thời gian cô chấp hành án. Vì hoàn cảnh, cô chỉ được biết tin sau đó một tuần. “Tôi chưa kịp nói lời xin lỗi, chưa kịp làm gì cho ông. Đó là điều khiến tôi day dứt nhất”, Thơ tâm sự.
Với mức án của mình, cô phải đủ 12 năm mới được xét giảm án lần đầu. Hiện đã 11 năm trôi qua. Thơ không dám mơ xa, chỉ mong gia đình bình an, các con trưởng thành tử tế.
Những người giữ lửa niềm tin
Trung tá Mai Thị Thu Trang, quản giáo phụ trách Đội phạm nhân số 1 cho biết, phạm nhân nữ án cao tại đơn vị chiếm số lượng không nhỏ, với nhiều tội danh như ma túy, giết người, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… Mức án phần lớn từ nhiều năm tù đến chung thân, thậm chí có người từng đối diện án tử hình rồi được giảm xuống chung thân.
Trung tá Mai Thị Thu Trang, quản giáo phụ trách Đội phạm nhân số 1.
Theo chị Trang, điều khiến công tác quản lý phạm nhân nữ án cao trở nên đặc biệt không chỉ là mức độ nghiêm trọng của bản án, mà còn ở những tổn thương tâm lý sâu sắc mà họ phải gánh chịu.
Nhiều người vào trại khi con còn rất nhỏ. Có người nhiều năm không được thăm nuôi. Có người nhận đơn ly hôn trong thời gian chấp hành án. Những cú sốc ấy khiến không ít phạm nhân rơi vào trạng thái suy sụp, mặc cảm, thậm chí mất phương hướng.
Với những trường hợp như vậy, cán bộ quản giáo phải thường xuyên gặp gỡ riêng, lắng nghe, phân tích, động viên để họ ổn định tinh thần. Khi cần thiết, đơn vị phối hợp mời gia đình lên gặp để giúp họ có thêm điểm tựa tinh thần.
Theo Trung tá Trang, phụ nữ chấp hành án thường chịu thiệt thòi nhiều hơn nam giới, bởi họ gắn bó sâu nặng với vai trò làm mẹ, làm vợ. Những năm tháng con trưởng thành không có sự hiện diện của mình là nỗi đau âm ỉ mà nhiều người phải mang theo suốt quá trình cải tạo.
“Mục tiêu của chúng tôi không chỉ là quản lý chặt chẽ mà còn giúp họ thay đổi nhận thức, giữ được niềm tin để cải tạo tốt. Khi họ còn hy vọng vào ngày trở về, họ sẽ có động lực để sống tích cực hơn mỗi ngày”, Trung tá Mai Thị Thu Trang nói.
Phía sau những bản án dài là những phận đời phụ nữ với nhiều thiệt thòi. Và giữa những bức tường trại giam, điều cần được giữ gìn không chỉ là kỷ luật, mà còn là niềm tin hy vọng để họ có thể bắt đầu lại khi cánh cửa tái hòa nhập mở ra.
Nguyễn Hiền/VOV.VN