Phía sau hai tiếng 'đất chè'

Phía sau hai tiếng 'đất chè'
4 giờ trướcBài gốc
Ngát xanh vùng chè xã La Bằng. Ảnh: Ngọc Hải
Chè mạn, trà mạn
- Chè mạn, trà mạn là sao? Đất chè là sao? Tôi tò mò hỏi lại
- Khi còn là búp trên cây, người ta gọi là chè. Khi đã là chè khô, người ta gọi là trà. Cả đồng bằng sông Hồng thường uống chè xanh, hái từ vườn đun uống, đến khi có trà khô từ mạn ngược mang về hãm uống, người ta gọi trà mạn ngược, sau chỉ dùng chữ mạn cho gọn. Cả nước, hàng chục nơi trồng chè, nhưng gọi là đất chè thì ai cũng hiểu là Thái Nguyên. Hình thành trong tiêu dùng, trải qua nhiều đời, thì ra hai chữ 'đất chè' quý hóa đến vậy!
Đảo JeJu của Hàn Quốc rộng chừng 250 cây số vuông là đơn vị hành chính cấp tỉnh, có thiên đường chè xanh Osulloc của tập đoàn Amorepacific, trước năm 1979, đảo JeJu chưa có ai trồng chè. Bây giờ là đặc sản, có thương hiệu và tiếng vang xa... Chúng tôi đến thăm, gọi là trang trại cho dễ chứ thực tế đây là một vùng đồi, bãi chè có cả nghìn héc-ta nằm hai bên đại lộ. Chè trồng và thu hái theo cơ giới nên chuẩn mực và tính chính xác cực cao. Những luống chè vuông vức được máy "gặt búp” vừa chạy qua để lại thảm chè phẳng lì, xanh thẫm, sắc cạnh, tít tắp. Những luống chè chưa gặt có mầu vàng mận, tua tủa búp.
Cả một vùng chè ở đây như một bức tranh thảo nguyên mênh mang, rãnh chè như có ai đó đặt thước kẻ những đường thẳng băng trong ánh nắng vàng rực rỡ. Bãi chè nơi đây ít trồng cây xanh, những khoản trống và ven các đường đi lại của xe cơ giới là các cột điện gió, điện mặt trời.
Chuyên gia và hướng dẫn viên ở đây giải thích rằng: Chè ở đây không phun thuốc sâu, thuốc thúc mầm nên không trồng cây xanh (nơi ẩn náu của sâu bệnh). Vả lại canh tác cơ giới nên nhu cầu che nắng cho người lao động thu hái không cần... Trang trại có một diện tích chừng vài hec-ta để khách du lịch trải nghiệm hái chè, chế biến thủ công, đóng gói theo cách truyền thống để chụp ảnh, quay phim... Đương nhiên, khu vực chế biến chè nằm liền kề và bảo đảm vệ sinh công nghiệp tuyệt đối. Có điều trà xanh pha ấm chỉ là một trong hàng trăm sản phẩm ăn, uống, mỹ phẩm, dược phẩm, thuốc chữa bệnh có nguyên liệu đầu vào từ chè xanh mà đây sản xuất. Mỗi năm, nơi này đón trên 12 triệu khách tham quan, tuy không bán vé nhưng lãi từ bán sản phẩm, dịch vụ tại chỗ đã cho một doanh số khổng lồ.
Người sáng lập Tập đoàn Mỹ phẩm Amore Pacific nhập một ít hạt giống chè từ Thái Nguyên, Lâm Đồng của Việt Nam và của nước Sri Lanka về trồng tại đảo với mục đích lấy nguyên liệu chiết suất một số hoạt chất trong mỹ phẩm. Thế rồi, mọi việc nằm ngoại dự kiến, khi đã ở vị trí chè xanh lớn thứ 3 thế giới rồi thì Tập đoàn Mỹ phẩm Amore Pacific không ngần ngại cho thành lập Bảo tàng chè Osulloc tầm cỡ thế giới, mở mang từ văn hóa thưởng trà đến bán buôn, bán lẻ sản phẩm... Khách có thời giờ nghỉ dưỡng tại đây, rèn tính kiên nhẫn qua đăng ký trước việc thực hành trà đạo; được tự tay pha trà đạo bằng ấm chén gốm Hagi nổi tiếng. Tuy thế, Jeju chưa bao giờ được gọi là 'đất chè'.
Dấu ấn 'đất chè'
Nương chè nằm sâu dưới chân núi ở xã An Khánh. Ảnh: Đ.T
Thái Nguyên nổi tiếng với chỉ dẫn địa lý 'đất chè' bằng nỗ lực của con người và điều kiện tự nhiên độc đáo. Tìm hiểu đặc điểm khí hậu Thái Nguyên là chìa khóa để lý giải tại sao nơi đây lại trở thành 'đất chè'. Các yếu tố khí hậu đặc trưng và tác động của chúng đến ngành nông nghiệp, đặc biệt là danh tiếng của chè và sản phẩm trà.
Trước tiên hãy tìm hiểu về vùng tiểu khí hậu sườn đông dẫy Tam Đảo. Dãy núi Tam Đảo dài khoảng 100km, có đỉnh cao gần 1.500m, nằm ở phía Tây của tỉnh. Rừng già lưu giữ nguồn nước, 8 dòng xuối lớn từ trên núi đổ xuống trở thành phụ lưu sông công, tạo các hồ lớn: hồ Núi Cốc, Đoàn Ủy, Vai Cầy, Ghềnh Chè… Đóng vai trò như một lá chắn hiệu quả, ngăn cản một phần gió mùa Tây Nam khô nóng, đồng thời chặn hơi ẩm từ biển vào, mưa và vùng tiểu khí hậu sườn Đông Tam Đảo. Theo hệ thống phân loại khí hậu Koppen-Geiger, khí hậu Thái Nguyên được xếp vào loại khí hậu cận nhiệt đới ẩm với mùa đông khô và mùa hè nóng, khí hậu đặc trưng của miền Bắc Việt Nam, nhưng lại mang sắc thái riêng.
Vị trí địa lý và địa hình phức tạp đã hình thành các đặc điểm khí hậu Thái Nguyên độc đáo, là nền tảng vàng cho ngành chè nói riêng và canh nông nói chung. Nền nhiệt trung bình năm cao: Nhiệt độ dao động ổn định trong khoảng 22-24 độ C, ngưỡng nhiệt hoàn hảo cho sự sinh trưởng và tích lũy hương vị đậm đà của búp chè. Lượng mưa dồi dào và tập trung, tổng lượng mưa hàng năm từ 1.800 đến 2.200mm, nhưng gần 90% tập trung vào mùa hè, tạo ra sự tương phản độ ẩm rõ rệt. Độ ẩm tương đối trung bình năm đạt khoảng 80-82%, giúp thảm thực vật luôn xanh tốt và cây chè phát triển mạnh mẽ quanh năm.
Đặc điểm đất đai, thổ nhưỡng cũng hết sức riêng có của Thái Nguyên. Các nghiên cứu cho thấy, phần lớn các vùng chè trọng điểm tại Thái Nguyên nằm trên nền đất có nguồn gốc rất đặc biệt, đất phát triển trên đá phiến thạch và phù sa cổ feralit đỏ vàng. Đây là loại đất đặc trưng của vùng trung du, có độ tơi xốp cao, giúp rễ cây chè dễ dàng đâm sâu và hút chất dinh dưỡng loại đất có sự pha trộn giữa đất thịt nhẹ và sỏi cơm, giúp thoát nước tốt nhưng vẫn giữ được độ ẩm cần thiết. Cây chè không chịu úng nước, nên cấu tạo đất này là yếu tố sống còn của chè.
Thổ nhưỡng Thái Nguyên có độ PH lý tưởng, dao động từ 4.5 đến 5.5, giúp cây chè hấp thụ tối đa các vi lượng như sắt, nhôm, Mangan… góp phần tạo nên màu nước trà xanh vàng óng ả. Cuối cùng, hàm lượng vi chất quý giá-điểm khác biệt lớn nhất của chè Thái Nguyên so với các vùng khác chính là hàm lượng vi chất trong đất. Cây chè hút khí trời, ăn mầu đất đất… Để tạo nên 'đất chè' là thế.
Hữu Minh
Nguồn Thái Nguyên : https://baothainguyen.vn/van-hoa/202601/phia-sau-hai-tieng-dat-che-a4f5687/