Công nghiệp văn hóa không còn mới ở nước ta, song thực tế tại nhiều địa phương vẫn còn là vấn đề khá mơ hồ, xa lạ. Với vai trò là người trực tiếp tư vấn, tham mưu xây dựng chính sách, xin ông làm rõ bản chất của công nghiệp văn hóa?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn: Thực ra, khái niệm công nghiệp văn hóa không còn xa lạ trong đời sống lý luận và hoạch định chính sách của chúng ta. Để phát triển được công nghiệp văn hóa theo đúng nghĩa, trước hết phải hiểu đúng bản chất của vấn đề. Công nghiệp văn hóa là hệ thống các ngành sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ dựa trên sáng tạo, tri thức và các giá trị văn hóa. Nói một cách ngắn gọn, đây là mô hình phát triển coi văn hóa là nguồn lực, coi sáng tạo là động cơ và công nghệ - thị trường là môi trường nuôi dưỡng. Chính đặc điểm này đã khiến công nghiệp văn hóa trở thành phương thức phát triển mới của thế giới trong nhiều thập niên qua.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội.
Sự khác biệt lớn nhất giữa công nghiệp văn hóa và các hoạt động văn hóa thông thường là ở tính công nghiệp: Có chuẩn hóa, công nghệ, chuỗi giá trị, có đổi mới sáng tạo liên tục, có thị trường mở và khả năng xuất khẩu.
Thực tế cho thấy, công nghiệp văn hóa đang trở thành phương thức phát triển phù hợp với xu thế hiện nay, vậy theo ông đâu là lý do?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn: Từ góc nhìn của tôi, công nghiệp văn hóa là xu thế phát triển phù hợp với thời đại hiện nay bởi ba lý do. Thứ nhất, đây là mô hình kinh tế tạo giá trị cao dựa trên trí tuệ và bản sắc, phù hợp với giai đoạn đất nước đang chuyển từ “sản xuất - gia công” sang “sáng tạo - dẫn dắt”. Trong khi đó, Bắc Ninh có lợi thế văn hóa đặc sắc, truyền thống khoa bảng, nghệ thuật, là nguồn chất liệu dồi dào để tạo ra sản phẩm và dịch vụ mang dấu ấn riêng.
Thứ hai, công nghiệp văn hóa là hạt nhân của kinh tế số. Khi thế giới dịch chuyển mạnh sang môi trường kỹ thuật số, những ngành có đặc trưng sáng tạo - dữ liệu - nội dung trở thành động lực tăng trưởng mới.
Thứ ba, công nghiệp văn hóa đóng vai trò quan trọng trong xây dựng sức mạnh mềm quốc gia và là động lực để các địa phương xây dựng “thương hiệu văn hóa”, thúc đẩy đầu tư, thu hút nhân lực chất lượng cao, tạo sức hấp dẫn đặc thù.
Với những lý do đó, công nghiệp văn hóa không chỉ là một lĩnh vực kinh tế, mà còn là phương thức phát triển mới của quốc gia trong giai đoạn hiện nay.
Sau sáp nhập, tỉnh Bắc Ninh có không gian rộng mở với dư địa phát triển lớn hơn. Theo ông, Bắc Ninh đang có những cơ hội nào để phát triển công nghiệp văn hóa?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn: Bắc Ninh đang có ít nhất ba cơ hội lớn để phát triển công nghiệp văn hóa. Về bản sắc và thương hiệu, hiếm có địa phương nào sở hữu một hệ giá trị văn hóa vừa cổ kính, vừa tinh tế như: Dân ca quan họ, lễ hội, làng nghề, ẩm thực, hệ thống di tích dày đặc, truyền thống khoa bảng, văn hiến ngàn năm… Bắc Ninh còn có cơ hội từ phát triển công nghiệp - công nghệ. Những tập đoàn hàng đầu như Samsung, Goertek, Foxconn, Amkor… đang hiện diện ở đây tạo nên một hệ sinh thái công nghiệp hiện đại mà không phải tỉnh nào cũng có. Trong xu thế chuyển đổi số, sự cộng hưởng giữa văn hóa và công nghệ sẽ mở ra không gian tăng trưởng mới mà địa phương hoàn toàn có thể đi trước, dẫn đầu.
Một cơ hội quan trọng nữa bắt nguồn từ tầm nhìn chính trị đó là Bắc Ninh xác định phát triển “thương hiệu địa phương” là một nhiệm vụ chiến lược. Điều đó có nghĩa là tỉnh đã nhìn thấy rõ vai trò của văn hóa trong mô hình phát triển mới. Chiến lược mới về công nghiệp văn hóa mà Chính phủ vừa phê duyệt, cùng hệ thống nghị quyết trụ cột như: Nghị quyết số 57 về khoa học - công nghệ, Nghị quyết số 59 về hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 66 về hoàn thiện thể chế, Nghị quyết số 68 về kinh tế tư nhân… cũng tạo ra hành lang pháp lý rộng mở để các địa phương, trong đó có Bắc Ninh triển khai mô hình phát triển dựa trên sáng tạo và văn hóa.
Di sản văn hóa Bắc Ninh tạo dấu ấn đặc biệt trong các chương trình nghệ thuật quy mô lớn.
Ông đánh giá như thế nào về thực trạng sản phẩm văn hóa và sức lan tỏa tài nguyên văn hóa của tỉnh Bắc Ninh?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn: Bắc Ninh là một trong những địa phương hiếm hoi trên cả nước sở hữu mật độ tài nguyên văn hóa dày đặc và phong phú đến mức có thể ví như một “kho báu mở”, tất cả tạo nên một bức tranh văn hóa đặc sắc mà không nơi nào có được. Nhưng, cũng chính ở đó xuất hiện nghịch lý phổ biến là “giàu tài nguyên nhưng nghèo sản phẩm”, giàu chất liệu nhưng thiếu những sản phẩm, dịch vụ có khả năng lan tỏa mạnh, tham gia thị trường và tạo ra giá trị kinh tế - xã hội. Thực trạng này không chỉ ở Bắc Ninh mà ở rất nhiều địa phương khác. Tuy nhiên, Bắc Ninh đang thiếu các “nhà thiết kế câu chuyện”, cũng như “kiến trúc sư văn hóa” để kể lại kho tàng văn hóa Kinh Bắc bằng ngôn ngữ nghệ thuật - công nghệ - sáng tạo. Địa phương cũng đang thiếu hệ sinh thái sáng tạo và lực lượng sản xuất sản phẩm văn hóa chuyên nghiệp, thiếu tư duy thị trường, chiến lược thương hiệu địa phương. Rất nhiều sản phẩm văn hóa của tỉnh chưa được đóng gói theo tiêu chuẩn công nghiệp...
“Muốn chuyển hóa văn hóa thành sức mạnh đòi hỏi Bắc Ninh dám nhìn văn hóa bằng con mắt của tương lai, không chỉ bằng sự trân trọng quá khứ. Văn hóa Kinh Bắc có thể trở thành chất liệu của âm nhạc hiện đại, điện ảnh, thiết kế sáng tạo, của nội dung số, thậm chí của kinh tế trải nghiệm. Giá trị không nằm trong việc giữ nguyên, mà nằm trong việc tạo ra những hình thức biểu đạt mới” - Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn.
Để phát huy những tiềm năng, thế mạnh cho phát triển công nghiệp văn hóa, theo ông tỉnh Bắc Ninh cần thực hiện những giải pháp gì?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Hoài Sơn: Điều quan trọng nhất là phải dám bước ra khỏi tư duy “giữ gìn là đủ” và chuyển sang tư duy “bảo tồn để phát triển - phát triển dựa vào bản sắc”. Theo tôi đó chính là tư duy tích hợp: Tích hợp văn hóa với công nghệ, kinh tế, giáo dục, du lịch, công nghiệp; tích hợp truyền thống với hiện đại; tích hợp bản sắc địa phương với nhu cầu thị trường toàn cầu. Chỉ có tích hợp mới tạo được giá trị gia tăng lớn; chỉ có tích hợp mới tạo ra những sản phẩm văn hóa có sức sống lâu dài và chỉ có tích hợp mới giúp Bắc Ninh bước vào kỷ nguyên sáng tạo với vị thế dẫn dắt.
Muốn chuyển hóa văn hóa thành sức mạnh đòi hỏi chúng ta dám nhìn văn hóa bằng con mắt của tương lai, bên cạnh sự trân trọng quá khứ. Văn hóa Kinh Bắc có thể trở thành chất liệu của âm nhạc hiện đại, điện ảnh, thiết kế sáng tạo và của nội dung số, thậm chí của kinh tế trải nghiệm. Giá trị không nằm trong việc giữ nguyên mà nằm trong việc tạo ra những hình thức biểu đạt mới.
Cần tạo điều kiện để người dân, nghệ nhân, nghệ sĩ, doanh nghiệp được tham gia vào quá trình sáng tạo văn hóa. Di sản sẽ không thể trở thành tài sản nếu cộng đồng không được trao quyền, nghệ nhân không được tôn vinh đúng mức và doanh nghiệp không được khuyến khích tham gia. Một hệ sinh thái sáng tạo mạnh phải đặt người sáng tạo ở trung tâm. Phải coi văn hóa là lĩnh vực đầu tư chiến lược dài hạn và phải coi thương hiệu văn hóa là tài sản phát triển, “sức mạnh mềm” của địa phương... Làm được vậy, tôi tin rằng Bắc Ninh sẽ trở thành một hình mẫu của Việt Nam trong kỷ nguyên công nghiệp văn hóa, nơi văn hóa thực sự trở thành nguồn lực của phát triển bền vững.
Trân trọng cảm ơn ông!
Thanh Lâm (thực hiện)