Toàn tỉnh Phú Thọ hiện có 683 điểm mỏ khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh. Ảnh: Sỹ Hào
683 điểm mỏ khoáng sản – áp lực lớn cho công tác quản lý
Sau sáp nhập, tỉnh Phú Thọ mới được hình thành với không gian phát triển rộng hơn, quy mô diện tích tự nhiên lớn, điều kiện địa chất đa dạng và nguồn tài nguyên, khoáng sản phong phú, phân bố trên địa bàn rộng. Đây là lợi thế quan trọng để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, các khu, cụm công nghiệp và các công trình trọng điểm.
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường, sau sáp nhập, toàn tỉnh Phú Thọ hiện có 683 điểm mỏ khoáng sản thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh. Trong số này, 207 điểm mỏ đã được cấp phép, còn 476 điểm mỏ chưa được cấp phép.
Cụ thể, khu vực Phú Thọ cũ có 321 điểm mỏ, trong đó 116 điểm đã được cấp phép; Hòa Bình cũ có 206 điểm mỏ, 84 điểm được cấp phép; Vĩnh Phúc cũ có 156 điểm mỏ nhưng mới chỉ 7 điểm được cấp phép. Toàn bộ các điểm mỏ đều đã được tích hợp vào quy hoạch tỉnh của 3 địa phương trước đây, tạo cơ sở pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về địa chất, khoáng sản.
Do số lượng điểm mỏ lớn, phân bố phân tán trên địa bàn rộng, trong khi lực lượng quản lý còn mỏng, địa hình phức tạp, đã và đang tạo áp lực không nhỏ đối với công tác theo dõi, kiểm tra, giám sát hoạt động khai thác khoáng sản.
Tình trạng thiếu hụt nguồn cung vật liệu xây dựng trong giai đoạn 2026 – 2030
Toàn tỉnh hiện có 235 dự án khai thác, thu hồi khoáng sản còn hiệu lực khai thác, trong đó đa phần là các mỏ đá được khai thác làm vật liệu xây dựng. Cụ thể, mỏ đá xây dựng thông thường có 93 mỏ, tổng trữ lượng trên 380 triệu m³, công suất khai thác gần 12 triệu m³/năm; cát, sỏi lòng sông có 47 mỏ, tổng trữ lượng trên 51 triệu m³.
Đây là nguồn lực quan trọng đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng cho các công trình, dự án, đặc biệt là khi nhiều dự án công trình trọng điểm đang được triển khai tại địa phương. Tuy nhiên, việc cân đối cung – cầu vật liệu xây dựng vẫn bộc lộ nhiều khó khăn. Theo dự báo, đến năm 2030, nhu cầu cát xây dựng của tỉnh khoảng 6,29 – 6,39 triệu m³/năm; đá xây dựng khoảng 8,29 – 8,39 triệu m³/năm; đất san lấp khoảng 18 – 20 triệu m³/năm.
Đáng chú ý, giai đoạn 2026 – 2030, nhu cầu đất san lấp cho các dự án đầu tư công trên địa bàn tỉnh còn thiếu khoảng 14,8 triệu m³. Ngoài ra, các dự án đầu tư công cấp xã đến năm 2030 ước cần gần 69 triệu m³, tập trung cao nhất vào năm 2026 với trên 17,4 triệu m³.
Nhiều dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh Phú Thọ đang triển khai xây dựng, đòi hỏi nguồn cung đất san nền rất lớn. Ảnh minh họa: Sỹ Hào
Đồng bộ giải pháp, nâng cao hiệu lực quản lý
Theo đánh giá của ngành Nông nghiệp và Môi trường, trữ lượng khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường trong quy hoạch tỉnh về cơ bản có thể đáp ứng nhu cầu phát triển. Tuy nhiên, công suất cung cấp cát, sỏi lòng sông và đặc biệt là đất san lấp vẫn thiếu trong giai đoạn 2026 – 2030.
Nguyên nhân chủ yếu do công suất khai thác cát, sỏi còn thấp; các mỏ đất san lấp chủ yếu gắn với việc thu hồi đất dôi dư của các dự án, thời gian khai thác ngắn, khó đáp ứng nhu cầu dài hạn. Bên cạnh đó, nguồn vật liệu của tỉnh còn phải chia sẻ cho các dự án trọng điểm quốc gia và các công trình do bộ, ngành Trung ương triển khai.
Công tác đấu giá quyền khai thác khoáng sản cũng còn nhiều bất cập. Với cát, sỏi lòng sông, điều kiện ngập nước và tác động dòng chảy gây khó khăn trong khảo sát, xác định giá khởi điểm. Đối với các mỏ sét làm nguyên liệu sản xuất gạch, nhiều khu vực trùng với diện tích đã được chấp thuận chủ trương đầu tư dự án khác, phát sinh vướng mắc pháp lý.
Mặt khác, việc báo cáo khối lượng khai thác, vận chuyển của một số đơn vị còn chậm, thiếu chính xác; công tác xử lý vi phạm khai thác ngoài ranh giới cấp phép gặp khó do thiếu hướng dẫn cụ thể về xác định chi phí sản xuất và lợi ích bất hợp pháp, nhất là trong bối cảnh Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024 và Nghị định số 193/2025/NĐ-CP mới được triển khai.
Các cơ quan chức năng tỉnh Phú Thọ đang tích cực đẩy nhanh tiến độ đấu giá quyền khai thác khoáng sản; hoàn thiện các thủ tục pháp lý để sớm cấp phép khai thác. Ảnh minh họa: Sỹ Hào
Trước thực tế đó, UBND tỉnh Phú Thọ đã và đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước về tài nguyên, khoáng sản. Trọng tâm là nâng cao hiệu quả tự cân đối đào – đắp ngay từ khâu lập, thẩm định dự án; yêu cầu các chủ đầu tư, đơn vị tư vấn khảo sát, xác định rõ khu vực khai thác đất đắp nền và đưa vào hồ sơ dự án ngay từ bước lập báo cáo nghiên cứu khả thi.
Cùng với đó, tỉnh chỉ đạo nâng công suất các mỏ vật liệu xây dựng thông thường đã được cấp phép; đẩy nhanh tiến độ đấu giá quyền khai thác khoáng sản; hoàn thiện các thủ tục pháp lý để sớm cấp phép khai thác, bảo đảm nguồn vật liệu cho các công trình, dự án trên địa bàn.
Đối với nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy gạch, tỉnh tiếp tục rà soát, cho phép thu hồi khoáng sản từ khối lượng đất dôi dư tại các dự án đang triển khai, đủ điều kiện làm nguyên liệu sản xuất. Đồng thời, tiếp tục cập nhật, điều chỉnh phương án quản lý địa chất, khoáng sản trong Quy hoạch tỉnh sau sáp nhập, tạo cơ sở pháp lý cho công tác thăm dò, khai thác trong thời gian tới.
Sỹ Hào