Phùng Khắc Khoan với xứ Thanh

Phùng Khắc Khoan với xứ Thanh
17 giờ trướcBài gốc
Năm 1601 Phùng Khắc Khoan soạn văn bia, khắc ghi ruộng đất hương hỏa thờ cúng vua nhà tiền Lê (bia nhỏ, bên trái - ảnh chụp tại Di tích quốc gia đặc biệt Đền thờ Lê Hoàn, xã Xuân Lập).
Phùng Khắc Khoan sinh năm 1528 tại làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay thuộc TP Hà Nội). Tương truyền, ông là em cùng mẹ khác cha với Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm. Có tư chất thông minh từ nhỏ, khi mới 10, 12 tuổi, thiên hạ đã lưu truyền lời sấm: “Văn tinh cửu dĩ xuất Phùng thôn” (sao Văn hiện ra ở làng Phùng lâu rồi), nhằm chỉ Phùng Khắc Khoan.
Từ giữa thế kỷ XVI, nhà Mạc bước vào thời kỳ suy thoái. Với tầm nhìn chiến lược, Trịnh Kiểm đã chọn sách Vạn Lại thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hoa (nay là xã Thọ Lập) lập hành điện. Nơi đây vừa có thế thủ lại vừa có thế công, tiến lui đều thuận lợi. Trước những biến thiên của thời cuộc, câu hỏi lớn đặt ra trước Phùng Khắc Khoan đó là phò Lê hay ra giúp Mạc?
Băn khoăn mãi, ông đã dò ý Trạng Trình vừa là thầy vừa là anh, nhưng không thấy Nguyễn Bỉnh Khiêm nói gì. Đêm ấy hai người cùng ngủ chung, trời chưa sáng, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đánh thức em dậy mà bảo: Gà gáy rồi, trời đã sáng, sao không dậy, ngủ mãi ư?
Vốn biết Trạng Trình là người thông hiểu lý số, thường nói ẩn dụ, Phùng Khắc Khoan hiểu ý rằng đã đến lúc vào giúp nhà Lê dựng nghiệp. Phùng Khắc Khoan bèn từ biệt thầy, bí mật lên đường, tránh sự truy bắt của quan quân nhà Mạc.
Buổi đầu mới đến đất Thanh, Phùng Khắc Khoan còn xa lạ, phải làm nghề gõ đầu trẻ để kiếm sống và chờ thời ra mắt vua Lê, chúa Trịnh. Giai thoại kể rằng, có một ông thầy đồ người địa phương, thấy học trò của mình bỏ sang theo học với thầy Phùng, nên làm đơn kiện lên quan huyện. Quan cho đòi hai người đến, rồi tình cờ thấy cái nghiên mực bằng vỏ trai ở trên bàn, bèn bảo ông đồ và Phùng Khắc Khoan làm bài thơ vịnh “con trai”, xem tài cao thấp để phán xử. Nghe xong thơ cả hai, quan huyện biết Phùng Khắc Khoan là người tài, đang nuôi chí lớn, nên mời ông ở lại cùng trò chuyện, xử cho ông đồ già được nhận lại học trò để có cái sinh nhai và tặng ông Phùng 10 nén bạc mong giúp ông trong buổi khó khăn ban đầu.
Sống trên đất Thanh Hóa một quãng thời gian, đến năm Đinh Tỵ (1557), khi vừa 29 tuổi, Phùng Khắc Khoan dự khoa thi hương tổ chức tại Yên Định (nay thuộc xã Định Tân) và đã đỗ đầu. Khi được chúa Trịnh Kiểm vời vào triều yết ông đã ứng đối trôi chảy, hỏi đâu biết đấy, khiến nhà chúa thốt lên là nhờ trời đất phù trợ, nên đã gặp được người hiền tài và phong cho ông chức “Ngự doanh ký lục”, ở ngay trong hành dinh, chuyên thảo giấy tờ, gần gũi để chúa hỏi han vấn đề quốc sự. Từ năm 1558 đến 1571 đời Lê Trung Tông, ông vâng mệnh đi các huyện chiêu dụ lưu dân về làm ăn như cũ. Sau được thăng Cấp sự trung Binh khoa, rồi đổi sang Cấp sự trung Bộ Lễ. Nhưng vì tính tình ngay thẳng, trái ý vua nên ông bị giáng chức ra thành Nam, thuộc Nghệ An, ít lâu sau lại được triệu về.
Năm Quang Hưng thứ 3 (1580), Phùng Khắc Khoan dự khoa thi hội đỗ Hoàng giáp và được thăng làm Đô cấp sự. Trong số 7 khóa thi được tổ chức ở Vạn Lại có 45 người đỗ tiến sĩ thì có hơn 30 người trở thành thượng thư, nhiều người được nhà vua cử đi sứ. Một số người sau khi đỗ tiến sĩ, làm quan và gắn bó với mảnh đất Vạn Lại như Phùng Khắc Khoan. Ông cũng chính là người được vua Lê và chúa Trịnh tín nhiệm cử tiếp sứ Tàu và hai lần làm trưởng đoàn sứ bộ nước ta sang Trung Quốc.
Năm 1582 ông xin từ quan về nhà riêng ở Vạn Lại. Nhưng nhà Lê vốn trọng dụng nhân tài, đến năm sau (1583) vua Lê Anh Tông lại vời ra làm Hồng lô tự khanh. Năm 1585, đổi ông sang làm Hữu thị lang Bộ Công, rồi cử làm Thừa chính sứ Thanh Hoa (tức Thanh Hóa). Theo bài tựa Ngôn chí thi tập do ông làm năm 1586 thì chức tước của ông lúc bấy giờ là: Công thần Kiệt tiết Tuyên lực, đặc ân Kim tử Vinh lộc đại phu, làm chức Tán trị thừa chánh sứ ty các xứ Thanh Hoa. Đến đời vua Lê Kính Tông, ông được thăng Thượng thư Bộ Công. Sau này còn được thăng Thượng thư Bộ Hộ, tước Mai Quận Công.
Thanh Hóa với Phùng Khắc Khoan là nơi ông gắn bó và thành tài, cũng là nơi gợi nguồn cảm hứng để ông sáng tác nhiều vần thơ. Đến Thành nhà Hồ ông viết bài thơ “Tây Đô hiểu quá” (Sáng sớm qua Tây Đô). Được tạo tác từ cảm hứng trước những cột mốc bi hùng của lịch sử dân tộc, bài thơ thể hiện xúc cảm trước di tích thành Tây Đô một thời và khát vọng của chí nam nhi, trách nhiệm của kẻ sĩ muốn an dân trị loạn, chấn hưng đất nước. Đến động đá Tráp Sơn, ông đã thả hồn mình vào lối thơ “lục ngôn luật” để trải lòng với vẻ đẹp “Thu hút được quần tiên thường đến chơi”. Những vần thơ của ông không chỉ là tức cảnh sinh tình, hơn hết, thể hiện ý chí, hoài bão và trách nhiệm của một bậc trọng thần suốt đời gắn bó với vận mệnh của quốc gia, dân tộc...
Về xã Vĩnh Lộc, đến quần thể di tích - danh thắng quốc gia chùa Du Anh, động Hồ Công, chúng tôi được chiêm ngắm tấm bia Trùng tu Xuân Đài sơn Hồ Công động Du Anh tự bi do Thượng thư Bộ Hộ Phùng Khắc Khoan soạn năm Hoàng Định thứ 6 (1605). Bia được tạo vuông từ mỏm đá nguyên khối nằm dưới chân núi Trác Phong đối diện với chùa Du Anh trong quần thể núi Xuân Đài, động Hồ Công. Mặt 1 và mặt 3 khắc nội dung văn bia và lạc khoản, mặt 2 và 4 khắc tên tuổi các tín thí từ vua, chúa, hoàng hậu, cung phi, quận công, hoàng thân quốc thích và người dân thường. Hậu thế gọi đây là bia Phùng Khắc Khoan - độc nhất vô nhị ở Việt Nam hiện nay.
Ngoài ra, ai đã từng đến Di tích quốc gia đặc biệt Đền thờ Lê Hoàn ở xã Xuân Lập, chắc hẳn không thể không ngắm nhìn 2 tấm bia đá có niên đại từ đầu thế kỷ XVII. Trong đó là tấm bia nhỏ dựng năm 1601 do Phùng Khắc Khoan soạn, khắc ghi ruộng đất hương hỏa thờ cúng vua nhà tiền Lê.
Thời gian đã lùi xa, nhưng hậu thế vẫn “gặp lại” Phùng Khắc Khoan trong chính sử; vẫn nhìn thấy nét khoan thai của ông trong những tấm bia đá. Chính sự có thể thay đổi, nhưng bia đá thì vẫn còn đó, để chúng ta theo dấu chân người xưa tìm về quá khứ của mảnh đất xứ Thanh địa linh nhân kiệt.
Bài và ảnh: Kiều Huyền
Bài viết sử dụng tư liệu trong sách “Các nhà khoa bảng Việt Nam” (Ngô Đức Thọ chủ biên); Lịch triều hiến chương loại chí (NXB Trẻ, 2004); Kinh đô Vạn Lại - Yên Trường (NXB Thanh Hóa, 2021) và một số tài liệu khác.
Nguồn Thanh Hóa : http://baothanhhoa.vn/phung-khac-khoan-voi-xu-thanh-274631.htm