Di tích Đoàn Thành (Thành cổ Lạng Sơn) - Trung tâm hành chính của tỉnh Lạng Sơn thời phong kiến
Mai Anh Tuấn tên thật là Mai Thế Tuấn, sinh năm 1815 làng Lang Miếu, phường Thịnh Hào, huyện Hoàn Long (nay là phường Ô Chợ Dừa, thành phố Hà Nội). Quê gốc của ông ở làng Hậu Trạch, xã Thạch Giản, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Họ Mai Thế vốn là một dòng họ danh giá ở xứ Thanh, từng có nhiều người đỗ đạt cao và làm quan dưới triều Lê như Mai Thế Chuẩn, Mai Thế Uông… Trong số đó Hương lĩnh hầu Mai Thế Chuẩn – cụ tổ bốn đời của Mai Anh Tuấn đỗ Tiến sĩ năm 1731 từng làm quan Đốc trấn Lạng Sơn dưới thời vua Lê Hiển Tông. Ông là người đã đứng ra tu bổ thành Lạng Sơn – trung tâm hành chính tỉnh vào năm Cảnh Hưng thứ 20 (1756). Ngày nay, tên ông đã được đặt cho tên một đường phố trong khu vực thành cổ Lạng Sơn (thuộc phường Lương Văn Tri).
Theo các tư liệu sử, Mai Anh Tuấn là người nổi tiếng thông minh và hiếu học. Trong khoa thi Quý Mão (năm Thiệu Trị năm thứ 3 – 1843), ông đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cấp đệ tam danh (Thám hoa), đồng thời cũng là người đỗ đầu trong kỳ thi đó. Sách Đại Nam nhất thống chí (Quốc sử quán triều Nguyễn, phần tỉnh Thanh Hóa) chép, ông là người “đỗ đệ nhất giáp đầu tiên của bản triều”. Bởi từ khi nhà Nguyễn mở khoa thi Đình vào năm 1822 đến khi đó, các vị trí “Tam khôi”: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa đều để trống chưa có ai đủ tài đỗ đạt (nhà Nguyễn không lấy Trạng Nguyên). Mai Anh Tuấn là người đầu tiên đỗ Thám hoa của triều Nguyễn. Vui mừng vì tuyển chọn được nhân tài, vua Thiệu Trị liền đổi tên ông từ Mai Thế Tuấn thành Mai Anh Tuấn và ban tặng một bài thơ để tỏ lòng yêu dấu, trọng người hiền tài.
Theo Đại Nam liệt truyện (Quốc sử quán triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa - Huế, năm 2006, tập 4), sau khi đậu Thám hoa, Mai Anh Tuấn đã được giao nhiều trọng trách của triều đình. Ông được bổ làm Hàn lâm viện trước tác, Nội các Bí thư Sở Hành tẩu, Hàn lâm viện thị độc học sĩ… Vốn là người khảng khái, cương trực, ngày 2/4/1851, ông đã dâng sớ khuyến nghị vua Tự Đức việc không cần thiết phải hộ tống đưa viên quan nhà Thanh (Trung Quốc) gặp nạn về nước theo lệ cũ mà gửi theo các thuyền buôn, nên dành tiền đó khen thưởng cho quân sĩ để “quét nhanh đám giặc ngoại biên” đang quấy nhiễu ở vùng biên giới Lạng Sơn. Mặc dù lời lẽ của bậc trung quân hết sức thống thiết, chí lý chí tình nhưng nhà vua vẫn không hài lòng, khép ông vào tội “khi quân bất kính” và phái ông lên Lạng Sơn làm Án sát sứ – một chức quan chuyên trông coi việc hình luật (tương đương tỉnh phó) từ tháng 4/1851.
Theo sử liệu, kể từ thời Tự Đức (giữa thế kỷ XIX), tình hình biên giới phía Bắc nước ta không mấy khi yên ổn. Bọn thổ phỉ nhà Thanh từ bên kia biên giới thường xuyên tràn sang cướp phá gây nhiều thiệt hại khiến Nhân dân địa phương khốn khổ, ly tán khắp nơi… Triều đình nhà Nguyễn thường xuyên phải điều các tướng giỏi lên Lạng Sơn dẹp giặc. Vì thế, làm quan Án sát ở nơi này là một nhiệm vụ rất khó khăn, nguy hiểm. Tuy vậy, Mai Anh Tuấn vẫn vui vẻ, hăng hái lên đây nhậm chức. Đến nhiệm sở mới, ông đã có nhiều biện pháp tích cực để làm tròn trọng trách với triều đình. Ông bắt tay vào chấn chỉnh pháp luật, nghiêm trị tội phạm, điều quân dẹp giặc… Theo sách Đại Nam liệt truyện, mới đến Lạng Sơn hơn một tháng, ông đã trực tiếp dẫn quân đánh thắng giặc ở Hữu Khánh (tổng Đồng Bộc, châu Lộc Bình), được nhà vua khen ngợi. Nhân đó, ông đã dâng sớ “Xin đình việc lưu quan, bãi việc chuyên vận, rèn tập thổ dõng để thư sức cho dân và ngầm bài xích thế giặc” như một kế sách để trị nước, ổn định vùng biên. Sau đó, giặc Tam Đường (băng đảng thổ phỉ do Quảng Nghĩa Đường, Lục Thắng Đường, Đức Thắng Đường cầm đầu) tràn vào Tiên Yên (Quảng Ninh) và tiến sâu vào vùng đất Yên Bác (Na Dương, Lộc Bình ngày nay). Chúng tập hợp hơn 3000 người chia nhau cướp phá. Án sát Mai Anh Tuấn cùng Chưởng vệ Nguyễn Đạc dẫn 1.000 quân đuổi đánh. Khi Nguyễn Đạc hy sinh, Mai Anh Tuấn liền mang quân tiếp cứu tản binh trong núi, nhưng vì địa thế hiểm trở, quân giặc quá đông, thế giặc mạnh nên ông đã bị giặc sát hại, hy sinh ngay giữa trận tiền vào tháng 8/1851. Nhận được tin đó, nhà vua vô cùng xót thương: “Mai Anh Tuấn là người học trò mà theo việc đánh giặc, hăng hái tiến lên, không nghĩ đến thân mà bị giết chết. Trẫm thương rỏ nước mắt ra” (Đại Nam thực lục chính biên – Quốc sử quán triều Nguyễn, tập 7, Nxb Giáo dục, năm 2006). Vua Tự Đức ra lệnh mang linh cữu Mai Anh Tuấn về an táng ở nơi sinh quán, đồng thời truy tặng Hàn lâm viện trực học sĩ.
Một số tư liệu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cho biết, khi ông mất, Tổng đốc, Thượng thư Kinh lược Bắc Kỳ Nguyễn Đăng Giai đã soạn một bài văn tế ca ngợi tài năng và những phẩm chất đáng quý của ông (chép trong tập Lạng Trình kỷ thực).
Theo Đại Nam liệt truyện, khi ông mất, nhà vua đã xuống chiếu chỉ thị cho các quan chức tỉnh Lạng Sơn lập đền thờ ông ở Đoàn Thành - nơi ông đã làm việc những năm cuối đời. Các quan chức tỉnh Thanh Hóa cũng lập một ngôi đền thờ trên chính mảnh đất quê hương ông – làng Hậu Trạch, xã Thạch Giản, huyện Nga Sơn (nay thuộc xã Nga Thắng). Ngôi đền này đến nay vẫn còn và đã được xếp hạng di tích Lịch sử văn hóa cấp Quốc gia từ năm 1991. Mộ ông ở một con ngõ nhỏ trên đường Đê La Thành (phường Ô chợ Dừa, Hà Nội). Linh vị và bát hương thờ ông được đặt ở đền Trung Nghĩa trong Đại Nội (Hoàng thành Huế) từ năm Tự Đức thứ 9 (1856). Đây là nơi chuyên thờ phụng quan lại, đại thần và những người có công lao trung nghĩa đối với triều đình nhà Nguyễn. Tên ông được đặt cho một con đường ở phường Ô Chợ Dừa (Hà Nội) và ngôi trường THPT nơi quê hương ông.
Có thể nói, cuộc đấu tranh chống lại giặc phỉ (giặc Khách) bảo vệ quê hương, đất nước là một trong những đặc trưng nổi bật của lịch sử Lạng Sơn nửa sau của thế kỷ XIX. Trong cuộc đấu tranh chính nghĩa ấy có biết bao tấm gương hy sinh anh dũng đã được ghi vào sử sách và lưu truyền trong dân gian như Nguyễn Lệ, Nguyễn Viết Thành, Mai Anh Tuấn, Nguyễn Thọ Kỷ, Quan lãnh (tổng) Bình Quân… Cuộc đời và sự nghiệp những năm tháng cuối đời của Thám hoa Mai Anh Tuấn đã phản ánh rất trung thực, rõ nét bối cảnh lịch sử của Lạng Sơn, cuộc chiến gay go, quyết liệt chống lại sự xâm lấn của giặc phỉ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, vì sự bình yên của vùng biên cương Xứ Lạng.
Chu Quế Ngân