Quản lý an toàn thực phẩm qua truy xuất nguồn gốc: Cần một 'bản đồ số' về an toàn thực phẩm

Quản lý an toàn thực phẩm qua truy xuất nguồn gốc: Cần một 'bản đồ số' về an toàn thực phẩm
2 giờ trướcBài gốc
Truy xuất nguồn gốc chưa thực sự hiệu quả?
Khảo sát thực tế tại các đầu mối giao thương, từ hệ thống chợ truyền thống đến các điểm tập kết hàng hóa tự phát tại các đô thị lớn như Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, có thể thấy một lượng lớn nông sản, thực phẩm tươi sống vẫn lưu thông trong tình trạng thiếu nhãn mác định danh.
Theo số liệu từ các đợt thanh tra chuyên ngành năm 2024 và đầu năm 2025, tỷ lệ thực phẩm tươi sống chưa được kiểm soát về nguồn gốc tại các chợ truyền thống vẫn chiếm tỷ trọng lớn, dao động từ 60 - 70%.
Không chỉ tại các sạp hàng bán lẻ, ngay cả hàng hóa được vận chuyển liên tỉnh cung ứng cho các bếp ăn tập thể hay các cơ sở chế biến nhỏ lẻ cũng thường xuyên trong tình trạng thiếu hồ sơ dữ liệu đi kèm hoặc chỉ được ghi chép thủ công sơ sài.
Luật An toàn thực phẩm 2010 và Nghị định 15/2018/NĐ-CP quy định rõ: Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc (TXNG). Thế nhưng, thực tế cho thấy, quy trình TXNG đang bị đứt gãy ngay từ gốc.
Người nông dân sản xuất nhỏ lẻ chiếm đại đa số nhưng chưa có thói quen ghi chép nhật ký sản xuất điện tử. Trong khi đó, hầu hết tiểu thương tại chợ coi việc dán tem, nhãn là thủ tục rườm rà, hoặc chỉ để “đối phó” với cơ quan chức năng.
Hệ quả là khi xảy ra các hậu quả xấu như ngộ độc thực phẩm tập thể, cơ quan chức năng thường gặp khó khi truy tìm căn nguyên. Lô hàng lỗi không có nguồn gốc rõ ràng khiến việc thu hồi triệt để trở nên khó khả thi, khó lòng ngăn chặn triệt để hậu quả dù đã phát hiện sai phạm.
Một trong những thách thức trọng yếu trong quản trị an toàn thực phẩm (ATTP) hiện nay là tính đồng bộ hóa dữ liệu giữa các đơn vị liên quan. Về phương diện điều hành, mặc dù Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã định hình rõ cơ chế hiệp đồng giữa ba cơ quan nòng cốt là Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và Bộ Công Thương, song quá trình vận hành mô hình này trên thực tiễn vẫn còn nhiều vấn đề.
Mỗi Bộ, ngành đều xây dựng các phần mềm, cơ sở dữ liệu riêng để phục vụ công tác chuyên môn, nhưng các hệ thống này đôi khi lại chưa thể tìm được điểm chung. Sự thiếu liên thông này tạo ra các khoảng trống pháp lý nguy hiểm.
Lấy ví dụ về lộ trình của một lô thịt gia súc, thông tin từ giai đoạn kiểm soát giết mổ (ngành Nông nghiệp) chưa được kế thừa xuyên suốt khi chuyển sang giai đoạn chế biến (ngành Công Thương) và giám sát tại điểm tiêu thụ (ngành Y tế). Sự phân mảnh dữ liệu này vô tình tạo ra các kẽ hở, khiến các đối tượng vi phạm có thể lợi dụng để hợp thức hóa thực phẩm không rõ nguồn gốc bằng hồ sơ giả mạo hoặc tem truy xuất chưa đủ tiêu chuẩn.
Cạnh đó, còn tồn tại những khoảng trống về tính thống nhất giữa các cấp. Tại nhiều địa phương, việc phân định thẩm quyền đôi khi gặp khó khăn do sự đa dạng của các mặt hàng thực phẩm có tính chất giao thoa về quy trình sản xuất và lưu thông. Thực trạng này không chỉ gây lúng túng trong việc thực hiện các thủ tục hành chính mà còn làm giảm hiệu quả trong công tác kiểm tra, xử lý vi phạm khi cần xác định trách nhiệm của cơ sở quản lý trực tiếp.
Tại hội thảo về xác thực truy xuất nguồn gốc diễn ra cách đây ít lâu ở Hà Nội, Đại tá Phạm Minh Tiến, Phó Giám đốc Trung tâm Dữ liệu quốc gia - Bộ Công an cho biết, có nhiều điểm bất cập trong việc truy xuất nguồn gốc, như không thống nhất mã định danh trên toàn quốc; dữ liệu phân tán theo các Bộ, ngành, lĩnh vực, chưa tập trung; việc truy xuất nguồn gốc có thực hiện nhưng mới là hình thức, thiếu chiều sâu, chưa thể hiện được chuỗi cung ứng, từ nguyên liệu, sản xuất đến người tiêu dùng.
Ngoài ra, việc kiểm soát hàng hóa trên các sàn thương mại điện tử được đánh giá chưa hiệu quả; người tiêu dùng chưa có một công cụ xác thực; cơ quan chức năng xử lý thủ công, bị động, chưa kiểm soát chặt chẽ; doanh nghiệp không bắt buộc phải tham gia.
Chúng ta nói nhiều về chuyển đổi số, mà cụ thể trong quản lý ATTP thì mã QR truy xuất nguồn gốc đóng vai trò quan trọng. Thế nhưng, không ít doanh nghiệp hiện nay đang sử dụng mã QR như một công cụ để “trang trí” cho bao bì hơn là minh bạch thông tin. Nhiều mã QR khi quét chỉ dẫn đến một trang web giới thiệu doanh nghiệp chung chung, thiếu hẳn dữ liệu động như: ngày thu hoạch, lô sản xuất hay quy trình vận chuyển...
Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật về TXNG hiện vẫn còn phân tán tại các thông tư chuyên ngành, chưa có một chuẩn chung thống nhất về định dạng dữ liệu quốc gia. Điều này dẫn đến tình trạng “mạnh ai nấy làm”, khiến dữ liệu không thể tích hợp vào Trung tâm dữ liệu quốc gia để quản lý đồng bộ.
Làm gì để thực phẩm bẩn không “lọt lưới”?
Để thực phẩm bẩn không còn “đất sống”, đã đến lúc chúng ta cần một chiến lược tổng thể, thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp từ thượng tầng pháp luật đến hạ tầng công nghệ.
Nhiệm vụ tiên quyết là phải hoàn thiện hành lang pháp lý về dữ liệu ATTP tập trung, trong đó quy định bắt buộc việc liên thông dữ liệu giữa các bộ chuyên ngành và tích hợp trực tiếp vào hệ thống dữ liệu dùng chung của Chính phủ theo Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030).
Trong quản lý ATTP thì mã QR truy xuất nguồn gốc đóng vai trò quan trọng nhưng chưa phát huy hiệu quả vì nhiều “điểm nghẽn”. (Ảnh: AN)
Khi thông tin không còn bị ngăn cách bởi các rào cản hành chính, một “bản đồ số” về ATTP sẽ được hình thành, cho phép cơ quan chức năng và người dân TXNG sản phẩm chỉ với vài thao tác đơn giản. Song song đó, việc chuẩn hóa hệ thống TXNG quốc gia cần được luật hóa thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật bắt buộc đối với tem nhãn thay vì để các doanh nghiệp tự phát hành các loại mã QR thiếu giá trị thông tin.
Nhà nước nên có chính sách khuyến khích áp dụng công nghệ Blockchain vào chuỗi cung ứng nhằm bảo đảm dữ liệu một khi đã cập nhật sẽ không thể bị can thiệp hay sửa đổi, từ đó tạo dựng niềm tin tuyệt đối cho người tiêu dùng.
Quan trọng hơn cả, tư duy quản lý cần chuyển dịch mạnh mẽ sang việc siết chặt kỷ cương và hậu kiểm dựa trên phân tích dữ liệu lớn (Big Data). Thay vì kiểm tra định kỳ một cách dàn trải và cảm tính, hệ thống thông minh sẽ tự động nhận diện và đưa các đơn vị có lịch sử dữ liệu không minh bạch vào “danh sách đen” để giám sát đặc biệt.
Để tăng tính răn đe, khung pháp lý cần bổ sung các chế tài xử phạt hành chính ở mức kịch khung, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gian lận dữ liệu truy xuất, bởi đây không chỉ là vi phạm kinh tế mà là hành vi nguy hiểm, trực tiếp đe dọa sinh mệnh của cộng đồng.
Trong hành trình minh bạch hóa thị trường thực phẩm, cần nhấn mạnh rằng người tiêu dùng không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà còn phải là một “mắt xích” giám sát không thể thiếu. Việc mỗi cá nhân hình thành thói quen sử dụng điện thoại thông minh để kiểm tra mã QR, đối chiếu thông tin sản phẩm trước khi chọn mua không đơn thuần là động tác kỹ thuật, mà là hành động bảo vệ quyền lợi và sức khỏe chính đáng của bản thân.
Sự phản hồi kịp thời từ phía người dân khi phát hiện những mã truy xuất “hình thức”, sai lệch dữ liệu hay sản phẩm mập mờ nguồn gốc chính là kênh thông tin quý giá giúp cơ quan chức năng khoanh vùng sai phạm. Chính sự kỹ lưỡng của người tiêu dùng sẽ tạo ra áp lực tích cực, buộc các nhà sản xuất phải tự giác siết chặt quy trình, bảo đảm mỗi sản phẩm cung ứng ra thị trường đều có một “lý lịch” sạch và minh bạch.
Ngăn chặn thực phẩm bẩn là cuộc chiến trường kỳ, không thể chỉ dựa vào sự tự giác của doanh nghiệp hay những đợt ra quân cao điểm. Pháp luật cần phải được vận hành trên một nền tảng thông tin minh bạch, ở đó mọi mắt xích trong chuỗi cung ứng đều phải chịu sự giám sát của dòng chảy dữ liệu liên thông. Khi chúng ta khơi thông được các “điểm nghẽn” về thông tin và siết chặt quản lý, các lô hàng thực phẩm bẩn sẽ khó lòng “lọt lưới”, mỗi người tiêu dùng Việt sẽ không còn bị thực phẩm bẩn gây tổn hại sức khỏe và tinh thần.
Ngọc Mai
Nguồn Pháp Luật VN : https://baophapluat.vn/quan-ly-an-toan-thuc-pham-qua-truy-xuat-nguon-goc-can-mot-ban-do-so-ve-an-toan-thuc-pham-8f2d49c3.html