Bên cạnh những giá trị tích cực trong việc lan tỏa các chuẩn mực đạo đức, nhân văn, môi trường số cũng làm gia tăng nguy cơ phát sinh các dạng thức khủng hoảng truyền thông tôn giáo, tạo nên thách thức mới trong bảo đảm quyền con người, đặc biệt là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Thách thức mới trong bảo đảm quyền con người
Thực hiện các nghị quyết của Ðảng, Quốc hội về công tác, chính sách tôn giáo, thời gian qua, Việt Nam đã tập trung phủ sóng, số hóa các chương trình, tăng cường thời lượng tin/bài, thông tin, tuyên truyền hướng về cơ sở, nâng cao chất lượng phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc; đẩy mạnh phổ biến các quan điểm, chủ trương của Ðảng, Nhà nước đối với cán bộ, nhân dân, đồng bào, nhất là với các chức sắc, tín đồ tôn giáo.
Ngoài các ấn phẩm chuyên môn về tôn giáo, hiện mỗi tôn giáo đều có ấn phẩm riêng; nhiều mô hình truyền thông tôn giáo chính thống như cổng thông tin điện tử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tổng Giáo phận Hà Nội, Hội đồng Giám mục Việt Nam hay các kênh truyền thông chính thức của các tổ chức tôn giáo đã góp phần quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, hạn chế tin đồn và ngăn ngừa sự lợi dụng tôn giáo để xuyên tạc, kích động.
Xây dựng hệ sinh thái thông tin tôn giáo lành mạnh trong kỉ nguyên số. Mục tiêu cuối cùng của quản trị khủng hoảng truyền thông tôn giáo trong kỉ nguyên số không phải là hạn chế quyền tự do biểu đạt hay quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà là xây dựng một hệ sinh thái thông tin tôn giáo lành mạnh, minh bạch, nhân văn và có khả năng tự điều chỉnh.
Có thể thấy, trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, không gian mạng đã trở thành một bộ phận cấu thành của đời sống xã hội, trong đó có đời sống tôn giáo. Ngày càng nhiều hoạt động thuyết giảng, sinh hoạt tôn giáo, kết nối cộng đồng tín đồ được triển khai trên các nền tảng số, góp phần mở rộng không gian thực hành tôn giáo, tạo điều kiện thuận lợi để người dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong điều kiện mới.
Tuy nhiên, cùng với những cơ hội đó, môi trường số cũng làm phát sinh các dạng thức khủng hoảng truyền thông tôn giáo mang tính phi truyền thống. Các thông tin sai lệch, xuyên tạc, cắt ghép, thổi phồng hoặc bị lợi dụng cho mục đích chính trị có thể nhanh chóng lan truyền với tốc độ lớn, phạm vi rộng, tác động trực tiếp đến niềm tin tôn giáo, trật tự xã hội và môi trường thực thi quyền con người.
Do vậy, khủng hoảng truyền thông tôn giáo không chỉ đơn thuần là vấn đề quản lý thông tin, mà đã trở thành bài toán cân bằng giữa nhiều quyền cơ bản như quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do biểu đạt, quyền được tiếp cận thông tin, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, đồng thời gắn với yêu cầu bảo đảm an ninh xã hội và an toàn con người. Đây là thách thức mới, đòi hỏi tư duy quản trị hiện đại, tiếp cận đa ngành và đặt con người ở vị trí trung tâm trong hoạch định và thực thi chính sách.
Mô hình quản lý truyền thống thiên về “quản lý, kiểm soát” không còn phù hợp, mà cần chuyển mạnh sang tư duy “kiến tạo, phục vụ”, lấy quyền con người làm trung tâm và mục tiêu xuyên suốt. Quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong môi trường số không nhằm hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà nhằm thiết lập môi trường pháp lý và xã hội an toàn, lành mạnh để quyền này được thực hiện một cách đầy đủ, bền vững và có trách nhiệm. Điều này đặc biệt quan trọng khi không gian mạng ngày càng trở thành không gian sinh hoạt tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống tinh thần của người dân.
Trên cơ sở đó, quản lý nhà nước về tôn giáo trong kỷ nguyên số cần bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi công dân, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật và các cam kết quốc tế về quyền con người. Đồng thời, bảo đảm mọi hoạt động tôn giáo trên không gian mạng được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
Mặt khác, cần minh bạch thông tin và tăng cường trách nhiệm giải trình của các chủ thể tham gia môi trường truyền thông số, nhằm bảo vệ quyền được tiếp cận thông tin đúng đắn của người dân. Ngoài ra, cần phát huy cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, các tổ chức tôn giáo, báo chí và cộng đồng xã hội trong phòng ngừa và xử lý khủng hoảng truyền thông. Việc thực hiện đồng bộ các yêu cầu trên không chỉ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong điều kiện chuyển đổi số, mà còn có ý nghĩa thiết thực trong việc bảo đảm quyền con người một cách thực chất và bền vững.
Tiếp cận từ góc độ quyền con người, có thể khẳng định rằng quản trị khủng hoảng truyền thông tôn giáo không phải là sự hạn chế tự do biểu đạt hay tự do tín ngưỡng, mà là quá trình kiến tạo môi trường pháp lí và xã hội an toàn, lành mạnh để các quyền này được thực hiện một cách đầy đủ, bền vững và có trách nhiệm.
Tăng cường quản trị khủng hoảng truyền thông tôn giáo trong kỷ nguyên số
Trên cơ sở những yêu cầu đặt ra đối với quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng một hệ thống giải pháp đồng bộ, có tính chiến lược và khả thi là điều kiện tiên quyết để nâng cao năng lực phòng ngừa, nhận diện và ứng phó hiệu quả với khủng hoảng truyền thông tôn giáo. Trong đó, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm như sau:
Một là, hoàn thiện hành lang pháp lý về thông tin tôn giáo trên không gian mạng. Trước hết, cần tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện hệ thống quy định pháp luật liên quan đến hoạt động thông tin, truyền thông tôn giáo trên môi trường số, trọng tâm là các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, Luật An ninh mạng và các văn bản pháp luật có liên quan.
Trong đó, cần làm rõ trách nhiệm pháp lý của cá nhân, tổ chức khi đăng tải, phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân tôn giáo; đồng thời quy định cụ thể đối với các hoạt động thuyết giảng, quyên góp, vận động tài trợ trực tuyến nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tín đồ, góp phần xây dựng môi trường sinh hoạt tôn giáo lành mạnh trên không gian mạng.
Hai là, xây dựng hệ thống giám sát và cảnh báo sớm khủng hoảng truyền thông. Cùng với hoàn thiện thể chế, cần đầu tư hạ tầng công nghệ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn để xây dựng hệ thống “lắng nghe xã hội” trong lĩnh vực tôn giáo.
Hệ thống này cho phép theo dõi, phân tích diễn biến dư luận theo thời gian thực, qua đó phát hiện sớm các nguy cơ tiềm ẩn ngay từ khi mới hình thành. Việc chủ động nhận diện sớm các “điểm nóng” truyền thông là cơ sở quan trọng để các cơ quan chức năng kịp thời tham mưu phương án xử lí, hạn chế nguy cơ bùng phát khủng hoảng trên diện rộng.
Ba là, thiết lập cơ chế phát ngôn và xử lý khủng hoảng liên ngành. Trong thực tiễn, việc chậm trễ hoặc thiếu thống nhất trong cung cấp thông tin khi xảy ra sự cố truyền thông liên quan đến tôn giáo dễ tạo ra khoảng trống thông tin, làm gia tăng tin đồn và suy diễn tiêu cực.
Do đó, cần xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, cơ quan tuyên giáo - dân vận, cơ quan công an và hệ thống báo chí. Việc xử lí khủng hoảng cần bảo đảm nguyên tắc “nhanh - đúng - trúng”, kịp thời cung cấp thông tin chính thống cho xã hội trong “thời gian vàng”, qua đó định hướng dư luận và bảo vệ quyền được tiếp cận thông tin đúng đắn của người dân.
Bốn là, tăng cường truyền thông chính sách về tôn giáo và quyền con người. Song song với các biện pháp quản lý, công tác truyền thông chính sách cần được đẩy mạnh nhằm xây dựng “hệ miễn dịch tinh thần” cho xã hội trước các thông tin sai lệch, xuyên tạc. Theo đó, cần chủ động lan tỏa các giá trị đạo đức, nhân văn của tôn giáo, tôn vinh các tấm gương chức sắc, tín đồ “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần củng cố niềm tin xã hội và tạo nền tảng văn hóa vững chắc để phòng ngừa khủng hoảng truyền thông.
Năm là, phát huy vai trò tự quản của các tổ chức tôn giáo. Bên cạnh vai trò quản lý của Nhà nước, các tổ chức tôn giáo cần phát huy mạnh mẽ tinh thần tự quản, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động truyền thông. Cần chủ động xây dựng bộ quy tắc đạo đức truyền thông, nâng cao năng lực truyền thông số cho đội ngũ chức sắc, nhà tu hành nhằm phòng ngừa từ sớm các nguy cơ phát sinh khủng hoảng.
Tinh thần tự quản nghiêm minh, trách nhiệm xã hội và ý thức tuân thủ pháp luật của các tổ chức tôn giáo là yếu tố quan trọng góp phần bảo vệ uy tín tôn giáo, quyền và lợi ích chính đáng của cộng đồng tín đồ, đồng thời củng cố môi trường thực hành quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong kỉ nguyên số.
Sáu là, xây dựng hệ sinh thái thông tin tôn giáo lành mạnh trong kỉ nguyên số. Mục tiêu cuối cùng của quản trị khủng hoảng truyền thông tôn giáo trong kỷ nguyên số không phải là hạn chế quyền tự do biểu đạt hay quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, mà là xây dựng một hệ sinh thái thông tin tôn giáo lành mạnh, minh bạch, nhân văn và có khả năng tự điều chỉnh.
Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần của Điều 24 Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các cam kết quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, trong đó khẳng định quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải được tôn trọng, đồng thời được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và vì lợi ích chung của xã hội.
Trong hệ sinh thái đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, bảo vệ quyền con người và bảo đảm môi trường thông tin an toàn; các tổ chức tôn giáo là chủ thể tự quản, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động truyền thông; báo chí và truyền thông giữ vai trò định hướng dư luận, lan tỏa các giá trị đạo đức, nhân văn của tôn giáo; người dân là chủ thể thụ hưởng quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời thực hiện quyền giám sát xã hội đối với các hoạt động tôn giáo trên không gian mạng.
Việc hình thành một “vùng xanh văn hóa” trên không gian mạng, nơi các giá trị đạo đức, nhân văn của tôn giáo được lan tỏa một cách chuẩn mực, vì vậy không chỉ là giải pháp phòng ngừa khủng hoảng truyền thông hiệu quả, mà còn là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin xã hội và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
TS. PHẠM VIẾT DUY