Từ lợi thế nền tảng này, tỉnh Quảng Trị đang từng bước tái cấu trúc ngành lâm nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Chế biến sâu, chuẩn hóa rừng trồng
Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị, sau sáp nhập địa giới hành chính, diện tích rừng trồng của toàn tỉnh đã hình thành một vùng nguyên liệu liên tục, có khả năng cung ứng trên 2 triệu m³ gỗ mỗi năm. Đây là yếu tố then chốt để doanh nghiệp chế biến yên tâm đầu tư dài hạn, ký kết hợp đồng xuất khẩu ổn định, hạn chế rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng. Từ nền tảng đó, nhiều doanh nghiệp chủ động liên kết với người trồng rừng, đầu tư công nghệ chế biến hiện đại và tái cấu trúc sản phẩm theo hướng gia tăng giá trị, từng bước hình thành chuỗi sản xuất – chế biến – tiêu thụ khép kín.
Một trong những mắt xích quan trọng của chuỗi giá trị lâm nghiệp tại Quảng Trị là khối doanh nghiệp chế biến gỗ quy mô công nghiệp. Nhiều cơ sở đã hoạt động ổn định, đầu tư dây chuyền công nghệ hiện đại với công suất lớn. Các dòng sản phẩm ván nhân tạo như MDF, HDF, ván phủ bề mặt… hiện có mặt tại nhiều thị trường trong nước và xuất khẩu. Riêng năm 2024, một số doanh nghiệp lớn đã thu mua hàng trăm nghìn tấn gỗ rừng trồng; sang năm 2025, nhu cầu nguyên liệu tiếp tục duy trì ở mức cao, đóng vai trò đầu kéo cho kinh tế lâm nghiệp địa phương và tạo đầu ra ổn định cho hàng chục nghìn hộ trồng rừng.
Song song với mở rộng sản xuất, nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ đang tăng cường đầu tư cho quản trị môi trường, chuyển đổi số và hoàn thiện hồ sơ truy xuất nguồn gốc nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường quốc tế, trong đó có Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu. Theo ông Phan Văn Phước, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị, định hướng phát triển lâm nghiệp của địa phương hiện nay không còn đặt nặng tăng diện tích hay sản lượng thuần túy, mà tập trung chuẩn hóa toàn bộ chuỗi giá trị từ trồng rừng, khai thác đến chế biến, tiêu thụ để gỗ Quảng Trị đủ sức đứng vững ở các thị trường khó tính.
Từ nền tảng vùng nguyên liệu, năng lực chế biến và quá trình chuẩn hóa chuỗi cung ứng, ngành gỗ Quảng Trị đang bước vào giai đoạn chuyển hướng mang tính chiến lược. Không còn dừng lại ở xuất khẩu gỗ dăm hay khai thác ngắn hạn, tỉnh chuyển trọng tâm sang chế biến sâu, chuẩn hóa nguồn nguyên liệu và xây dựng ngành công nghiệp gỗ có chứng chỉ quốc tế.
Ở phân khúc chế biến sâu, một số doanh nghiệp trên địa bàn đã đầu tư bài bản, hình thành năng lực sản xuất đồ nội thất, ngoại thất phục vụ xuất khẩu. Với công suất hàng chục nghìn mét khối mỗi năm, sản phẩm gỗ hoàn thiện của Quảng Trị đã có mặt tại nhiều thị trường có tiêu chuẩn cao ở châu Âu và Bắc Mỹ. Theo ông Tạ Văn Hiển, Phó Giám đốc Công ty TNHH Tiến Phong Cam Lộ (Quảng Trị), vùng nguyên liệu ổn định và có chứng chỉ là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp đầu tư dài hạn, bởi khách hàng quốc tế ngày càng quan tâm chặt chẽ đến nguồn gốc gỗ và phương thức quản lý rừng.
Để đáp ứng các yêu cầu về môi trường và trách nhiệm xã hội, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư đồng bộ từ nhà xưởng, quản trị đến truy xuất nguồn gốc, đạt các chứng nhận quốc tế như CoC, BSCI, QMI; đồng thời chủ động liên kết với các vùng rừng gỗ lớn có chứng chỉ FSC ngay tại địa phương, tạo tiền đề để ngành gỗ Quảng Trị tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao Quảng Trị tích cực tham gia công tác tuần tra bảo vệ rừng.
Rừng sinh lợi từ tín chỉ carbon
Không chỉ là lá phổi xanh của khu vực miền Trung, hệ thống rừng ở Quảng Trị đang dần trở thành một nguồn lực kinh tế mới trong bối cảnh toàn cầu đẩy mạnh giảm phát thải khí nhà kính. Là địa phương tham gia Thỏa thuận giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ (ERPA), Quảng Trị đang trực tiếp hưởng lợi từ cơ chế chi trả tín chỉ carbon rừng – mô hình tài chính môi trường gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với giá trị kinh tế cụ thể.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị, việc tham gia ERPA không chỉ giúp địa phương tiếp cận nguồn tài chính quốc tế cho công tác quản lý, bảo vệ rừng, mà còn mở ra hướng phát triển thị trường carbon – một cấu phần quan trọng của nền kinh tế xanh. Tính đến ngày 31/12/2025, tổng nguồn thu từ ERPA đạt gần 365 tỷ đồng, trong đó hơn 326,7 tỷ đồng đã được chi trả cho các đối tượng hưởng lợi.
Nguồn kinh phí này được phân bổ trực tiếp về cơ sở, nhất là các khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số – nơi rừng không chỉ là tài nguyên mà còn là sinh kế. Riêng tại hai huyện miền núi Hướng Hóa và Đakrông (cũ), hàng chục cộng đồng và nhóm hộ đã có thêm nguồn thu ổn định từ việc nhận khoán quản lý, bảo vệ rừng. Ông Hồ Bâng, người dân xã Hướng Phùng, cho biết từ khi tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, ý thức của cộng đồng đã thay đổi rõ rệt. “Trước đây giữ rừng chủ yếu vì trách nhiệm chung, nay rừng gắn trực tiếp với thu nhập nên bà con chủ động hơn. Mỗi chuyến tuần tra không chỉ là bảo vệ rừng, mà là bảo vệ sinh kế lâu dài của chính mình”, ông Bâng nói.
Không dừng lại ở chi trả trực tiếp, nhiều cộng đồng còn được hỗ trợ kinh phí để đầu tư các hoạt động phục vụ đời sống và sinh kế. Cách tiếp cận này giúp người dân không chỉ giữ rừng để được trả tiền, mà từng bước coi rừng là nền tảng cho phát triển cộng đồng bền vững. Theo ông Phan Văn Phước, hiệu quả lớn nhất của ERPA không chỉ nằm ở những con số giải ngân, mà ở sự chuyển biến về nhận thức. “Khi rừng được nhìn nhận như một loại tài sản xanh, gắn với quyền lợi kinh tế cụ thể, việc bảo vệ rừng sẽ trở thành nhu cầu tự thân của cộng đồng, chứ không còn là nghĩa vụ mang tính hành chính”, ông Phước phân tích.
Hiện Quảng Trị có gần 286.000ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm hơn 60% diện tích tự nhiên. Bên cạnh rừng tự nhiên, rừng trồng đang ngày càng khẳng định vai trò quan trọng không chỉ về kinh tế mà còn về môi trường. Rừng trồng gỗ lớn, rừng trồng có chứng chỉ bền vững không chỉ cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, mà còn góp phần hấp thụ carbon, giảm áp lực lên rừng tự nhiên. Một số diện tích rừng do cộng đồng quản lý tại Quảng Trị đã đạt chứng chỉ quản lý rừng bền vững FSC, với tổng diện tích trên 2.100ha. Những cánh rừng này có khả năng hấp thụ và lưu trữ lượng lớn carbon sinh khối – nền tảng để tham gia các cơ chế tín chỉ carbon trong tương lai.
Trong chiến lược dài hạn, tỉnh đang chuẩn bị các điều kiện để tham gia sâu hơn vào thị trường carbon quốc tế, thông qua điều tra, đánh giá sinh khối và trữ lượng carbon theo từng loại rừng, từng hệ sinh thái. “Không chỉ rừng, Quảng Trị còn nghiên cứu tiềm năng tín chỉ carbon từ hệ sinh thái biển, đặc biệt là thảm cỏ biển, nhằm mở rộng không gian tài sản xanh cho phát triển bền vững”, ông Phan Văn Phước cho biết.
Thanh Bình