Các chính sách ban hành tại Kỳ họp đều mang đậm tinh thần đổi mới và tinh thần hành động quyết liệt để tháo gỡ những điểm nghẽn, vừa đảm bảo tính căn cơ, lâu dài, kịp thời đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, thúc đẩy phân cấp, phân quyền gắn với nâng cao trách nhiệm cụ thể; đồng thời, quy định cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý hiệu quả các dự án tồn đọng, khơi thông nguồn lực...
Các đại biểu tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI.
Khơi thông nguồn lực đất đai hơn 3,3 triệu tỷ đồng
Một trong những chính sách được Quốc hội thông qua tại kỳ họp này là Nghị quyết 29/2026/QH16 về cơ chế, chính sách đặc thù để xử lý vi phạm pháp luật về đất đai của tổ chức, cá nhân xảy ra trước khi Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực và tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các dự án tồn đọng, kéo dài. Nghị quyết nhằm xử lý dứt điểm những sai phạm về đất đai nhưng không vì mục đích vụ lợi mà do mong muốn thúc đẩy, tạo sự bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; những dự án, công trình mặc dù có liên quan đến sai phạm hoặc đang tồn đọng, kéo dài nhưng đang mang lại hiệu quả thiết thực, phù hợp với nhu cầu, lợi ích chính đáng của người dân, doanh nghiệp, có đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước... Qua đó, góp phần bảo vệ, khuyến khích cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm; khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ trách nhiệm, không dám làm; bảo đảm phù hợp với tình hình, bối cảnh lịch sử cụ thể khi xảy ra sai phạm; đồng thời giải phóng nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Theo tính toán của các cơ quan chức năng, tính đến ngày 30/3/2025, cả nước có 4.489 dự án, đất đai gặp khó khăn, vướng mắc với tổng quy mô diện tích sử dụng đất hơn 198.428,1 ha và tổng giá trị mức đầu tư là 3,3 triệu tỷ đồng. Số tài sản trên hiện gần như đang “nằm chết” tại nhiều địa phương mặc dù Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều giải pháp để tháo gỡ như ban hành Quyết định 751 thành lập Ban Chỉ đạo về giải quyết các vấn đề khó khăn, vướng mắc các dự án tồn đọng; xây dựng và đưa vào vận hành Hệ thống cơ sở dữ liệu của Ban Chỉ đạo về giải quyết các dự án tồn đọng (Hệ thống 751), được thiết lập trên hạ tầng của Hệ thống Đầu tư công.
Tuy nhiên, vẫn còn hàng nghìn dự án vượt thẩm quyền giải quyết của địa phương và Chính phủ, cần phải có nghị quyết của Quốc hội để giải quyết triệt để những vướng mắc này; là cơ sở pháp lý cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân vi phạm về đất đai phù hợp với tình hình, bối cảnh cụ thể khi xảy ra vi phạm, bảo đảm việc xem xét đầy đủ, khách quan, đúng pháp luật. Từ đó, góp phần khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy, sợ sai không dám làm; bảo vệ, khuyến khích cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, không tham nhũng, tiêu cực, góp phần khơi thông nguồn lực của đất nước.
Được giao nhiệm vụ phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng nghị quyết, liên tục mấy tháng liền, cán bộ, chiến sĩ Cục Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp, Bộ Công an và Cục An ninh kinh tế gần như bám trụ tại cơ quan, nghiên cứu tài liệu, tham mưu xây dựng nghị quyết với mục tiêu cao nhất là tháo gỡ vướng mắc, giải phóng nguồn lực đất đai, đồng thời bảo đảm việc xử lý vi phạm theo hướng khách quan, toàn diện, phù hợp thực tiễn và bối cảnh lịch sử, góp phần khơi thông nguồn lực để đóng góp tích cực cho việc phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước trong giai đoạn mới với mục tiêu tăng trưởng 2 con số. Sau nhiều lần cho ý kiến, thảo luận tại tổ, tại hội trường, ngày 28/4, Quốc hội đã thông qua nghị quyết với số phiếu gần như tuyệt đối (484/486 đại biểu Quốc hội có mặt tán thành).
Khu đô thị mới Thủ Thiêm chờ chính sách tại Nghị quyết 29/2026/QH16 để giải quyết các khó khăn, vướng mắc.
Nói về nghị quyết này, bà Phạm Thị Hồng Yến, đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, cho biết trước khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, tình hình sai phạm và vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai đã xảy ra ở nhiều địa phương trên cả nước. Trong đó có nhiều nguyên nhân, điều kiện, bối cảnh, động cơ và mục đích khác nhau. Nhiều vụ án, vụ việc sai phạm đã được chỉ đạo phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời và đúng pháp luật.
Qua hoạt động thanh tra, kiểm tra hoặc xử lý trách nhiệm hình sự trong các vụ việc, vụ án thời gian qua, Chính phủ có báo cáo nhiều vụ việc, vụ án, người vi phạm không vì mục đích vụ lợi mà vì mong muốn thu hút đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc phát triển kinh tế, giúp tăng thu ngân sách, tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống của người dân. Có một số dự án, công trình liên quan đến sai phạm nhưng mang lại hiệu quả tích cực, mang lại lợi ích chính đáng của người dân, doanh nghiệp, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa phương.
Do đó, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn giải phóng nguồn lực đất đai, phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, Chính phủ cũng đã trình Quốc hội xem xét, thảo luận, thông qua nghị quyết, cho phép hình thành cơ chế thống nhất trong việc đánh giá các vụ việc một cách khách quan, toàn diện; thực hiện xem xét, xử lý tổ chức, cá nhân bảo đảm hợp lý, hợp tình, cân nhắc bối cảnh lịch sử cụ thể, phù hợp với các quy định pháp luật tại thời điểm xảy ra sai phạm. Cùng với đó, thực hiện đánh giá đúng động cơ, mục đích sai phạm cũng như tình hình thực tế của từng địa phương và hiệu quả kinh tế - xã hội mang lại so với các thiệt hại gây ra.
Bà Phạm Thị Hồng Yến nhấn mạnh, nghị quyết quy định cách thức xử lý rất nghiêm khắc nhưng cũng rất nhân văn để có thể sớm kết thúc, giải quyết các vụ việc, vụ án tồn đọng kéo dài, qua đó thể hiện đầy đủ chính sách khoan hồng của pháp luật. Ngoài ra, việc tổ chức thực hiện nghị quyết cũng sẽ tạo ra một cơ chế để bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung mà không tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đồng thời, khắc phục tình trạng sợ trách nhiệm hoặc đùn đẩy trách nhiệm của một số bộ phận cán bộ.
“Đây cũng chính là giải pháp để trực tiếp góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số ngay trong năm 2026 và tạo đà vững chắc cho các địa phương và cả nước hướng tới tốc độ tăng trưởng 2 con số trong cả nhiệm kỳ 2026-2030”, bà Phạm Thị Hồng Yến nói thêm.
Hoàn thiện chính sách thuế - Tạo động lực mới cho phục hồi và phát triển kinh tế
Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, một trong những nội dung đáng chú ý là việc thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật thuế quan trọng gồm: thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế tiêu thụ đặc biệt. Đây được xem là bước đi kịp thời nhằm hoàn thiện thể chế tài chính, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh mới. Đây cũng là nội dung mới, được Quốc hội bổ sung trong kỳ họp để tạo nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.
Một trong những điểm mới đáng chú ý là thay đổi cách xác định ngưỡng doanh thu chịu thuế đối với hộ, cá nhân kinh doanh. Nếu trước đây áp dụng mức cứng 500 triệu đồng/năm thì nay Quốc hội đã quyết định bỏ ngưỡng cố định này, giao Chính phủ quy định linh hoạt theo từng giai đoạn kinh tế - xã hội. Đồng thời, luật cũng quy định cá nhân kinh doanh có doanh thu dưới ngưỡng sẽ không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng. Chính sách này có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh chi phí sinh hoạt tăng cao, giúp giảm áp lực tài chính cho hàng triệu hộ kinh doanh nhỏ, đồng thời kích thích tiêu dùng trong nền kinh tế.
Hộ kinh doanh vui mừng khi được áp dụng ngưỡng thuế 1 tỷ đồng/năm.
Ngưỡng nộp thuế, theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn: 1 tỷ đồng/năm là hài hòa, phù hợp trong thời điểm hiện nay. Ngay sau khi Quốc hội thông qua luật, ngày 29/4, Chính phủ đã có Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2026/NĐ-CP quy định về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh và Nghị định số 320/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, chính thức quy định ngưỡng nộp thuế của hộ kinh doanh là 1 tỷ đồng/năm thay cho mức 500 triệu trước đây.
Đối với thuế doanh nghiệp, Quốc hội đã “chốt” giảm thuế suất để khuyến khích phát triển. Theo đó, đối với doanh nghiệp, điểm đáng chú ý là việc điều chỉnh thuế suất theo quy mô. Cụ thể, doanh nghiệp có doanh thu từ trên 3 tỷ đồng đến dưới 50 tỷ đồng/năm được áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp 17%, thấp hơn mức phổ thông trước đây. Bên cạnh đó, luật bổ sung quy định cho phép miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có doanh thu dưới ngưỡng nhất định. Những điều chỉnh này hướng tới 2 mục tiêu: giảm chi phí tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo động lực chuyển đổi từ hộ kinh doanh lên mô hình doanh nghiệp, qua đó nâng cao tính minh bạch và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Không chỉ dừng lại ở mục tiêu hỗ trợ trước mắt, các chính sách thuế còn hướng đến định hướng dài hạn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng xanh và bền vững. Điển hình, việc đề xuất kéo dài ưu đãi thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xe điện thể hiện rõ định hướng khuyến khích phát triển phương tiện thân thiện với môi trường, phù hợp với xu thế chuyển đổi năng lượng và giảm phát thải.
Theo đó, từ năm 2026: xe điện dưới 9 chỗ có thuế suất 3% (tăng lên 11% từ năm 2031); xe điện từ 10-16 chỗ chỉ phải chịu thuế 2%; xe từ 16-24 chỗ, mức thuế chỉ còn 1%. Mức thuế thấp trong giai đoạn đầu được xem là “đòn bẩy” để thúc đẩy thị trường xe điện, qua đó giảm phát thải, phù hợp với cam kết phát triển bền vững và chuyển đổi năng lượng xanh của Việt Nam. Đây là một trong những công cụ chính sách quan trọng nhằm điều tiết hành vi sản xuất và tiêu dùng.
Việc sửa đổi đồng bộ 4 luật thuế ngay tại kỳ họp đầu tiên của nhiệm kỳ cho thấy một bước chuyển quan trọng: từ tư duy quản lý thu thuế sang tư duy hỗ trợ và kiến tạo phát triển. Các con số cụ thể như 17% thuế suất cho doanh nghiệp vừa, 3% thuế xe điện, hay việc bỏ ngưỡng 500 triệu đồng/năm không chỉ là điều chỉnh kỹ thuật mà là thông điệp rõ ràng về một môi trường kinh doanh thông thoáng, linh hoạt và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Phương Thủy