Một góc địa bàn xã Đăk Pxi, tỉnh Quảng Ngãi. (Ảnh nhandan.vn)
Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 vừa ký Quyết định số 47/QĐ-BCĐCTMTQG ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Ban Chỉ đạo này.
Quy chế này quy định về nguyên tắc tổ chức và hoạt động, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc và quan hệ phối hợp công tác của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 (gọi tắt là Ban Chỉ đạo Trung ương).
Nguyên tắc làm việc
Quy chế nêu rõ, Ban Chỉ đạo Trung ương làm việc theo chế độ đề cao trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu; chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương và các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương trong quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương theo phân công tại Quyết định số 822/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương làm việc theo chế độ kiêm nhiệm; giải quyết công việc đúng phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; bảo đảm đúng thời hạn, hiệu quả và đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Ban Chỉ đạo Trung ương làm việc theo nguyên tắc tập trung, dân chủ, thảo luận công khai, bảo đảm sự thống nhất. Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương quyết định hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án xử lý các vấn đề chung trong quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030 (sau đây gọi tắt là Chương trình) những vấn đề thuộc lĩnh vực phụ trách mang tính liên ngành của 2 Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương.
Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương quyết định các nội dung theo phân công. Các Ủy viên Ban Chỉ đạo Trung ương chịu trách nhiệm triển khai công việc được phân công và chủ động chỉ đạo triển khai nhiệm vụ thuộc ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước được giao.
Thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương tham gia, thực hiện đầy đủ các hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương; kịp thời báo cáo và chịu trách nhiệm cá nhân trước Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về nhiệm vụ được phân công theo quy định tại Quy chế này. Ý kiến tham gia của các thành viên là ý kiến chính thức của các cơ quan, tổ chức nơi công tác.
Chế độ làm việc
Ban Chỉ đạo Trung ương hoạt động theo chương trình công tác và phân công nhiệm vụ cụ thể của Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương cho các thành viên để tổ chức thực hiện. Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện theo quy định tại Điều 2 Quyết định số 822/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ.
Hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương được thực hiện theo quy định tại Quyết định số 822/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ và thông qua các phiên họp toàn thể của Ban Chỉ đạo Trung ương định kỳ tháng, quý, hằng năm hoặc đột xuất theo quyết định của Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương và các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương; thông qua lấy ý kiến các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương bằng văn bản, cụ thể như sau:
Nội dung cuộc họp, thành phần tham dự cuộc họp và thời điểm tổ chức cuộc họp của Ban Chỉ đạo Trung ương do Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương quyết định.
Cuộc họp của Ban Chỉ đạo Trung ương phải được thông báo tới các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương bằng văn bản trước ít nhất 3 ngày làm việc. Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương quyết định hình thức họp trực tiếp hoặc họp trực tuyến; nội dung, tài liệu kèm theo (nếu có), dự kiến thời gian và địa điểm. Các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương có trách nhiệm nghiên cứu tài liệu, chuẩn bị ý kiến thảo luận, bố trí thời gian tham dự đầy đủ các phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương.
Kết luận của Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương tại các cuộc họp của Ban Chỉ đạo Trung ương được thể hiện bằng thông báo của Văn phòng Chính phủ.
Trường hợp không tổ chức được cuộc họp, có thể lấy ý kiến các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương bằng văn bản.
Chế độ báo cáo
Các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương về tình hình triển khai các nhiệm vụ được phân công định kỳ trước ngày 15/6, trước ngày 15/12 hằng năm hoặc báo cáo đột xuất theo yêu cầu của Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, hoặc chủ động báo cáo những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Báo cáo của các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương gửi Ban Chỉ đạo Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường để theo dõi, tổng hợp chung, đồng thời gửi Văn phòng Chính phủ.
Các cơ quan chủ trì nội dung thực hiện chế độ báo cáo việc triển khai, thực hiện từng nội dung định kỳ trước ngày 30/6, trước ngày 30/12 hằng năm và trước các cuộc họp Ban Chỉ đạo Trung ương ít nhất 3 ngày làm việc, đồng thời gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp chung.
Định kỳ trước 31/12 hằng năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường báo cáo tình hình hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương gửi Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ theo quy định.
Quan hệ phối hợp công tác
Các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương tham gia các hoạt động chung của Ban Chỉ đạo Trung ương và thực hiện nhiệm vụ do Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương, các Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương phân công.
Các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ trong việc theo dõi, chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình. Các thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, giám sát việc thực hiện các nội dung, nhiệm vụ và kế hoạch triển khai các nội dung thành phần thuộc Chương trình theo chức năng, nhiệm vụ được phân công; kịp thời báo cáo Ban Chỉ đạo Trung ương về kết quả, tiến độ thực hiện, các vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện Chương trình.
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: từ năm 2026 đến năm 2030 được phê duyệt vào tháng 1/2026.
Chương trình đề ra bốn mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030.
Thứ nhất, phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân nông thôn gấp 2,5-3 lần so với năm 2020, tăng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước.
Thứ hai, phấn đấu tỷ lệ nghèo đa chiều của cả nước duy trì mức giảm 1%-1,5%/năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%.
Thứ ba, phấn đấu vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cơ bản không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn.
Thứ tư, phấn đấu cả nước có khoảng 65% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có khoảng 10% số xã được công nhận đạt nông thôn mới hiện đại; phấn đấu có 5 tỉnh, thành phố được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Chương trình thực hiện trên phạm vi cả nước; ưu tiên các xã, thôn đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo.
Đối tượng thụ hưởng là các xã, thôn, người dân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp và các tổ chức khác có liên quan trên địa bàn cả nước, trong đó ưu tiên hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo (trong vòng 36 tháng, kể từ thời điểm hộ được cấp có thẩm quyền công nhận thoát nghèo), vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, an toàn khu, biên giới và hải đảo.
Chương trình được xây dựng thành 2 hợp phần với nhiều nội dung thành phần.
Hợp phần thứ nhất gồm các nội dung chung thực hiện trên địa bàn cả nước (gồm 10 nội dung thành phần và 52 nội dung cụ thể, thực hiện trên phạm vi toàn quốc; chỉ thực hiện tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đối với những nội dung Hợp phần thứ hai không quy định, nhằm đạt được các mục tiêu, chỉ tiêu của Chương trình)
Hợp phần thứ hai có các nội dung đặc thù phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (gồm 5 nội dung thành phần và 23 nội dung cụ thể, thực hiện trên phạm vi vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; chỉ thực hiện ngoài vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đối với những nội dung mang tính đặc thù của ngành công tác dân tộc và không quy định trong Hợp phần thứ nhất).
PV