Quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong phối hợp giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế

Quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong phối hợp giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế
3 giờ trướcBài gốc
Chiều 11-4, tham gia thảo luận tại hội trường dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế, đại biểu Quốc hội tỉnh Khánh Hòa Bùi Mạnh Cường – Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đã có nhiều ý kiến tâm huyết nhằm góp phần hoàn thiện dự thảo nghị quyết này. Ngay sau phiên thảo luận, đại biểu Bùi Mạnh Cường đã trả lời phỏng vấn Báo và Phát thanh, Truyền hình Khánh Hòa về vấn đề này.
Đại biểu Quốc hội Bùi Mạnh Cường - Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu thảo luận.
- Thưa ông, ông đánh giá như thế nào về sự cần thiết phải xây dựng, ban hành Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù nâng cao hiệu quả phòng ngừa và giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế?
- Tôi đồng tình cao với sự cần thiết phải xây dựng Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều cả về quy mô và số lượng, dự báo các tranh chấp đầu tư quốc tế sẽ ngày càng tăng, trong khi đây là lĩnh vực rất khó, rất phức tạp. Vì vậy, việc xây dựng Nghị quyết để quy định cụ thể trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong hoạt động phối hợp giải quyết các tranh chấp đầu tư quốc tế là rất cần thiết.
Đại biểu Quốc hội Bùi Mạnh Cường - Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh.
- Để hoàn thiện dự thảo nghị quyết này, Quốc hội cần xem xét thêm những vấn đề gì, thưa ông?
- Tôi đồng tình với những nội dung cơ bản của dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về cơ chế phối hợp, chính sách đặc thù trong phòng ngừa, giải quyết tranh chấp đầu tư quốc tế được trình tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI. Để hoàn thiện dự thảo nghị quyết này, tôi có một số góp ý như sau:
Thứ nhất, với xu hướng tranh chấp đầu tư quốc tế dự báo ngày càng tăng, trong khi các loại tranh chấp rất đa dạng, với quy mô, tính chất khác nhau; có những tranh chấp có giá trị lớn, tính chất pháp lý phức tạp, có nguy cơ ảnh hưởng tới thu hút đầu tư nước ngoài; nhưng cũng có những tranh chấp có giá trị không lớn, tính chất pháp lý không phức tạp. Nếu quy định tất cả các loại tranh chấp đầu tư quốc tế đều phải xử lý theo nghị quyết này là không cần thiết. Do đó, tôi đề nghị bổ sung quy định về phạm vi áp dụng trong Khoản 1 Điều 3 dự thảo là “Áp dụng đối với các tranh chấp đầu tư quốc tế có giá trị lớn, có tính pháp lý phức tạp, có nguy cơ ảnh hưởng tới thu hút đầu tư nước ngoài”. Còn đối với những tranh chấp có giá trị nhỏ, tính chất pháp lý ít phức tạp thì giao cho các cơ quan có quyết định, thỏa thuận, hành vi bị kiện hoặc đe dọa bị kiện chịu trách nhiệm giải quyết.
Thứ hai, theo thống kê trong tờ trình của Chính phủ, từ năm 2003 đến nay, nhà đầu tư nước ngoài chính thức khởi kiện hoặc đe dọa khởi kiện Nhà nước, Chính phủ Việt Nam 32 vụ; các hành vi, quyết định bị kiện chủ yếu liên quan đến hoạt động của cơ quan tư pháp, giao đất, thu hồi đất, thu hồi hoặc không gia hạn giấy chứng nhận đầu tư, các biện pháp thuế… Như vậy, các cơ quan tư pháp cũng là đối tượng có thể bị khởi kiện. Trong dự thảo nghị quyết cũng có quy định về trách nhiệm phối hợp của cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, hoạt động tố tụng có tính chất đặc thù, đòi hỏi tính độc lập cao, nhất là đối với các vụ án, vụ việc đang giải quyết, như: Việc ban hành các quyết định phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời… Nếu không có quy định có tính nguyên tắc thì có thể dẫn đến việc can thiệp không đúng pháp luật vào hoạt động tố tụng, làm ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động tố tụng. Do đó, tôi đề nghị bổ sung 1 nguyên tắc trong Điều 4 dự thảo, cụ thể: “Không can thiệp trái pháp luật, không làm ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng khi đang giải quyết vụ án, vụ việc”.
Thứ ba, tên của Điều 7 (nằm trong Chương II: Phối hợp phòng ngừa tranh chấp đầu tư quốc tế) là “Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong tham mưu xây dựng chính sách, pháp luật, ký và chấp nhận các cam kết quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài”. Trong khi đó, tại Khoản 3 Điều 7 lại quy định “UBND các tỉnh, thành phố kiểm tra, kịp thời xử lý vi phạm trong hoạt động đầu tư nước ngoài tại địa phương”. Như vậy, nội dung Khoản 3 không phù hợp với tên điều luật. Mặt khác, việc UBND tỉnh, thành phố kiểm tra, xử lý vi phạm không phải là hoạt động phòng ngừa tranh chấp, thậm chí hoạt động này có thể phát sinh tranh chấp nếu đối tượng bị xử lý vi phạm là nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, tôi đề nghị bỏ nội dung này trong Điều 7 dự thảo.
- Trân trọng cảm ơn ông!
THÚY SƯƠNG (thực hiện)
Nguồn Khánh Hòa : http://www.baokhanhhoa.vn/chinh-tri/202604/quy-dinh-cu-the-trach-nhiem-cua-cac-co-quan-nha-nuoc-trong-phoi-hop-giai-quyet-cac-tranh-chap-dau-tu-quoc-te-77d05a4/