Luật Chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù 2025 quy định Bộ Công an là Cơ quan Trung ương về chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của Việt Nam.
Luật quy định, người đang chấp hành án phạt tù hoặc người đại diện hợp pháp của người đó chỉ có quyền rút lại đơn đề nghị được chuyển giao trước khi quyết định tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù hoặc quyết định chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù của TAND có thẩm quyền của Việt Nam có hiệu lực.
Về chi phí và kinh phí trong chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Luật nêu rõ, kinh phí cho công tác chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù do ngân sách Nhà nước đảm bảo theo quy định của pháp luật trong mọi trường hợp.
Người đang chấp hành án phạt tù hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thể tự nguyện đóng góp hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần chi phí sinh hoạt, đi lại và các chi phí khác của người đang chấp hành án phạt tù được chuyển giao theo quy định của pháp luật.
Về thẩm quyền xem xét tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam, theo Luật, TAND khu vực nơi người được đề nghị chuyển giao có nơi thường trú cuối cùng tại Việt Nam quyết định tiếp nhận.
Luật bổ sung một số trường hợp từ chối tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù ở nước ngoài về Việt Nam và chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam cho nước ngoài.
Luật quy định mở rộng đối tượng người đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam được chuyển giao cho nước ngoài, bao gồm cả người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại các cơ sở giam giữ do Bộ Quốc phòng quản lý.
Đặc biệt, Luật còn nêu rõ, người nước ngoài đang chấp hành án phạt tù tại Việt Nam chỉ được chuyển giao cho nước ngoài để tiếp tục chấp hành án khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định.
Cụ thể, người đang chấp hành án phải là công dân của nước nhận, hoặc được phép cư trú không thời hạn tại nước nhận, hoặc được nước nhận đồng ý tiếp nhận. Hành vi phạm tội đã bị kết án tại Việt Nam phải đồng thời cấu thành tội phạm theo pháp luật của nước nhận tại thời điểm lập yêu cầu chuyển giao, bảo đảm nguyên tắc song trùng tội danh.
Bên cạnh đó, tại thời điểm tiếp nhận yêu cầu, người đang chấp hành án phải còn ít nhất 1 năm thời hạn chấp hành án phạt tù, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định.
Một điều kiện đáng chú ý là người này phải hoàn thành các nghĩa vụ dân sự, hình phạt bổ sung và trách nhiệm pháp lý khác theo bản án của Tòa án Việt Nam; trường hợp chưa hoàn thành thì chỉ được chuyển giao khi có cam kết hoặc bảo đảm thực hiện từ phía nước nhận hoặc các chủ thể có liên quan. Việc chuyển giao cũng phải có sự đồng ý của Việt Nam hoặc của nước nhận, tùy theo chủ thể lập yêu cầu.
Ngoài các điều kiện nêu trên, Luật quy định rõ các trường hợp bắt buộc từ chối chuyển giao, trong đó lần đầu tiên bổ sung căn cứ từ chối nếu có nguy cơ người được chuyển giao bị tra tấn, trả thù, ngược đãi, phân biệt đối xử hoặc bị đối xử vô nhân đạo tại nước nhận.
Huệ Linh