Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 133/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực, có hiệu lực từ ngày 25/5. Trong đó quy định chi tiết mức xử phạt về vi phạm các quy định về mua, bán lẻ điện.
Tại Điều 12, Nghị định 133/2026/NĐ-CP quy định mức phạt khi vi phạm các quy định về mua, bán lẻ điện, như sau:
- Phạt tiền tổ chức là Đơn vị bán lẻ điện từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
Không ký hợp đồng mua bán điện sau 7 ngày làm việc mà không có lý do chính đáng kể từ khi bên mua điện phục vụ mục đích sinh hoạt đã bảo đảm các điều kiện theo quy định và thỏa thuận về các nội dung trong dự thảo hợp đồng;
Sử dụng thiết bị (phương tiện) đo đếm điện không được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của pháp luật về đo lường.
Theo quy định mới có hiệu lực từ 25/5/2026, vi phạm quy định về giá bán lẻ điện có thể bị xử phạt từ 50–60 triệu đồng. Ảnh minh họa.
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng nghề nghiệp để sách nhiễu các tổ chức, cá nhân sử dụng điện nhằm mục đích vụ lợi.
- Phạt tiền tổ chức là Đơn vị bán lẻ điện từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi bán điện mà không có hợp đồng mua bán điện với khách hàng sử dụng điện hoặc bán điện cho khách hàng sử dụng điện khi hợp đồng mua bán điện phục vụ mục đích sinh hoạt đã hết hiệu lực mà chưa được gia hạn.
- Phạt tiền tổ chức là Đơn vị bán lẻ điện từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:
Bán sai giá điện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định;
Giao kết hợp đồng mua bán điện khi bên mua điện không bảo đảm một trong các điều kiện theo quy định.
- Phạt tiền tổ chức là Đơn vị bán lẻ điện từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng đối với hành vi xuất, nhập khẩu điện mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Hình thức xử phạt bổ sung: Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.
Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc sử dụng thiết bị (phương tiện) đo đếm điện bảo đảm yêu cầu kỹ thuật đo lường và được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của pháp luật về đo lường đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do bán cao hơn mức giá quy định (bao gồm cả mọi chỉ phí phát sinh do hành vi vi phạm gây ra) để hoàn trả cho cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 4 Điều này. Đơn vị bán lẻ điện phải hoàn trả cho tổ chức, cá nhân số tiền điện đã thu thừa cộng với lãi suất do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng.
Trường hợp không xác định rõ thời điểm áp dụng sai giá được tính với thời gian là 12 tháng. Trường hợp không xác định được cá nhân, tổ chức để hoàn trả thì nộp toàn bộ số tiền chênh lệch do bán cao hơn mức giá quy định vào ngân sách nhà nước;
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính để sung vào ngân sách nhà nước đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 5 Điều này. Số lợi bất hợp pháp được xác định bằng mức sản lượng đã xuất khẩu, nhập khẩu nhân với mức giá bán lẻ điện bình quân tối đa tại khung giá của mức giá bán lẻ điện bình quân do cơ quan có thẩm quyền ban hành;
Buộc nộp lại số tiền bằng với giá trị tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trong trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật.
Đan Tâm