Bảo đảm sự tương ứng về ngạch khi chuyển đổi
Thông tư này quy định về thẩm quyền, điều kiện, tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục chuyển đổi chức danh, ngạch Kiểm sát viên sang chức danh, ngạch Điều tra viên tương ứng hoặc chuyển đổi chức danh, ngạch Điều tra viên sang chức danh, ngạch Kiểm sát viên tương ứng trong ngành KSND.
Đối tượng áp dụng gồm các đơn vị thuộc bộ máy làm việc của VKSND tối cao quy định tại Nghị quyết số 1745/NQ-UBTVQH15, ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn đề nghị của Viện trưởng VKSND tối cao về bộ máy làm việc của VKSND tối cao (trừ Ủy ban kiểm sát); VKSND tỉnh, thành phố (VKSND cấp tỉnh), VKSND khu vực, Viện kiểm sát quân sự các cấp; Điều tra viên thuộc Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Cơ quan điều tra Viện kiểm sát quân sự trung ương; Kiểm sát viên thuộc các đơn vị quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Thông tư này; các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
Theo Thông tư quy định, việc chuyển đổi giữa chức danh, ngạch Kiểm sát viên và chức danh, ngạch Điều tra viên phải bảo đảm các nguyên tắc sau: Thực hiện công khai, minh bạch, công bằng khi chuyển đổi; phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm của cơ quan, đơn vị; đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn của chức danh, ngạch Kiểm sát viên, Điều tra viên được chuyển đổi; đồng thời, bảo đảm sự tương ứng về ngạch khi chuyển đổi giữa chức danh, ngạch Kiểm sát viên và chức danh, ngạch Điều tra viên.
Về thẩm quyền chuyển đổi, Thông tư nêu rõ: Viện trưởng VKSND tối cao quyết định việc chuyển đổi giữa chức danh, ngạch Kiểm sát viên và chức danh, ngạch Điều tra viên tương ứng.
Điều kiện, tiêu chuẩn chuyển đổi
Theo Thông tư quy định, người được xem xét chuyển đổi sang chức danh, ngạch Điều tra viên khi có đủ điều kiện, tiêu chuẩn sau: Là Kiểm sát viên, cùng ngạch tương ứng với chức danh, ngạch Điều tra viên chuyển đổi; có năng lực điều tra các vụ án phù hợp với chức danh, ngạch Điều tra viên chuyển đổi; đã được đào tạo về nghiệp vụ điều tra theo quy định; được xếp loại chất lượng công chức ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên 3 năm công tác liền kề trước năm chuyển đổi.
Đồng chí Nguyễn Huy Tiến, Viện trưởng VKSND tối cao trao quyết định bổ nhiệm chức danh Kiểm sát viên cao cấp cho các cá nhân. (Ảnh minh họa)
Người được xem xét chuyển đổi sang chức danh, ngạch Kiểm sát viên khi có đủ điều kiện, tiêu chuẩn sau: Là Điều tra viên, cùng ngạch tương ứng với chức danh, ngạch Kiểm sát viên chuyển đổi; có năng lực thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp phù hợp với chức danh, ngạch Kiểm sát viên chuyển đổi; đã được đào tạo về nghiệp vụ kiểm sát theo quy định; được xếp loại chất lượng công chức ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên 3 năm công tác liền kề trước năm chuyển đổi.
Mặt khác, Thông tư cũng quy định về trình tự, thủ tục chuyển đổi chức danh, ngạch Kiểm sát viên, Điều tra viên. Theo đó, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, Thủ trưởng Cơ quan điều tra VKSND tối cao, thủ trưởng đơn vị thuộc VKSND tối cao, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh tiếp nhận hoặc đang quản lý công chức căn cứ chỉ tiêu biên chế được giao, nhu cầu vị trí việc làm, điều kiện, tiêu chuẩn chuyển đổi chức danh, ngạch Kiểm sát viên, Điều tra viên quy định tại Điều 6, Điều 7 Thông tư này lập hồ sơ đề nghị chuyển đổi, báo cáo VKSND tối cao (qua Vụ Tổ chức cán bộ) để thẩm định.
Vụ Tổ chức cán bộ có trách nhiệm tham mưu giúp Viện trưởng VKSND tối cao thẩm định, đề xuất việc chuyển đổi giữa chức danh, ngạch Kiểm sát viên và chức danh, ngạch Điều tra viên tương ứng.
Căn cứ đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, Thủ trưởng Cơ quan điều tra VKSND tối cao, Thủ trưởng các đơn vị thuộc VKSND tối cao, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh và kết quả thẩm định của Vụ Tổ chức cán bộ, Viện trưởng VKSND tối cao quyết định việc chuyển đổi giữa chức danh, ngạch Kiểm sát viên và chức danh, ngạch Điều tra viên tương ứng.
Về hồ sơ chuyển đổi chức danh, ngạch Kiểm sát viên, Điều tra viên, Điều 9 Thông tư quy định hồ sơ gồm các tài liệu sau đây: Tờ trình đề nghị chuyển đổi chức danh, ngạch Kiểm sát viên, Điều tra viên của cơ quan trực tiếp hoặc đang sử dụng, quản lý công chức; Đơn đề nghị của người được xem xét chuyển đổi; Sơ yếu lý lịch theo mẫu quy định được đơn vị sử dụng công chức xác nhận, có dán ảnh màu khổ 4 x 6 cm; Bản tự nhận xét, đánh giá 3 năm công tác gần nhất của Kiểm sát viên, Điều tra viên (theo mẫu số 01); Bản nhận xét, đánh giá của cấp ủy, lãnh đạo cơ quan quản lý, sử dụng công chức về quá trình công tác (theo mẫu số 02); Bản sao Quyết định bổ nhiệm chức danh Kiểm sát viên hoặc Điều tra viên gần nhất của người được xem xét chuyển đổi; Bản sao có chứng thực văn bằng, chứng chỉ về trình độ chuyên môn nghiệp vụ điều tra, kiểm sát.
Ngoài ra, Thông tư cũng quy định về thời gian tính nhiệm kỳ đối với chức danh Kiểm sát viên, Điều tra viên được chuyển đổi. Theo đó, thời gian này được tính kể từ ngày bổ nhiệm chức danh Kiểm sát viên, Điều tra viên tương ứng trước khi chuyển đổi.
Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 9/3/2026. Trường hợp các văn bản dẫn chiếu tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo các văn bản mới đó.
P.V