Quyền an cư

Quyền an cư
2 giờ trướcBài gốc
Bởi vậy, chuyển trọng tâm chính sách nhà ở xã hội từ mục tiêu sở hữu sang bảo đảm quyền an cư thông qua phát triển nhà ở cho thuê, như định hướng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, là quyết sách mang tính bước ngoặt trong tư duy phát triển.
Điều quan trọng nhất của chính sách nhà ở, rốt cuộc, không phải là giúp mọi người bằng mọi giá phải sở hữu một căn nhà, mà là bảo đảm họ có một nơi ở ổn định, an toàn và phù hợp khả năng chi trả. Với một công nhân trẻ, một lao động nhập cư hay một gia đình thu nhập trung bình thấp, việc có thể thuê được căn hộ chất lượng với chi phí hợp lý để yên tâm làm ăn, nuôi con và tích lũy có lẽ thiết thực hơn nhiều so với việc phải gồng gánh khoản vay mua nhà hàng chục năm.
Sự thay đổi này cũng phù hợp với xu hướng phát triển của nhiều quốc gia. Không phải ngẫu nhiên ở nhiều nền kinh tế phát triển, chính sách nhà ở ngày càng chú trọng khả năng tiếp cận chỗ ở thay vì thúc đẩy sở hữu bằng mọi giá. Khi giá nhà vượt quá tốc độ tăng thu nhập, việc “đại trà hóa sở hữu nhà” có thể khiến nợ hộ gia đình tăng cao, làm giảm tính linh hoạt của thị trường lao động và tạo áp lực lớn cho an sinh xã hội trong dài hạn. Trong khi đó, một thị trường nhà ở cho thuê phát triển lành mạnh lại giúp người lao động dễ dịch chuyển hơn, giảm áp lực tài chính và nâng cao chất lượng sống đô thị.
Tuy nhiên, con đường từ ý tưởng đến hiện thực sẽ không dễ dàng. Thách thức đầu tiên là nguồn lực đầu tư. Phát triển quỹ nhà ở xã hội cho thuê quy mô lớn đòi hỏi nguồn vốn rất lớn và thời gian hoàn vốn dài. Khó khăn lớn hơn có lẽ nằm ở năng lực quản trị và vận hành. Nhà ở cho thuê là một hệ thống dịch vụ công cộng dài hạn, bao gồm quản lý cư dân, bảo trì tài sản, kiểm soát chất lượng, điều phối giá thuê và duy trì môi trường sống ổn định. Nếu quản trị yếu, các khu nhà ở xã hội rất dễ xuống cấp nhanh, hình thành những “khu nghèo tập trung” và phát sinh thêm các vấn đề xã hội. Đây là bài học không ít quốc gia từng trải qua.
Bởi vậy, để nhà ở xã hội cho thuê có thể trở thành trụ cột chiến lược, rất cần vai trò “nhạc trưởng” của Nhà nước. Điều này không có nghĩa Nhà nước phải trực tiếp làm tất cả, mà quan trọng hơn là phải đóng vai trò kiến tạo thể chế, điều phối cung - cầu và thiết kế cơ chế tài chính dài hạn. Kinh nghiệm của Singapore hay Malaysia cho thấy, thành công của nhà ở xã hội không chỉ nằm ở nguồn vốn ngân sách, mà còn ở khả năng xây dựng được quỹ đất chiến lược, hệ thống dữ liệu dân cư hiệu quả, cơ chế tài chính dài hạn với lãi suất thấp và bộ máy vận hành chuyên nghiệp.
Trong đó, quỹ đất và quy hoạch là vấn đề đặc biệt quan trọng. Nhà ở xã hội cho thuê chỉ thực sự có ý nghĩa khi được đặt ở những vị trí thuận tiện, gắn với giao thông công cộng, khu công nghiệp, trường học, bệnh viện và các dịch vụ thiết yếu. Người lao động không chỉ cần một căn hộ giá rẻ. Điều họ cần là khả năng tiếp cận việc làm và một môi trường sống đủ điều kiện để tái tạo sức lao động. Vì vậy, nếu quy hoạch máy móc, đặt dự án ở vị trí xa trung tâm, thiếu hạ tầng hoặc giá thuê vẫn vượt khả năng chi trả, nguy cơ “cung không gặp cầu” hoàn toàn có thể xảy ra.
Một vấn đề khác không thể xem nhẹ là xác định đúng đối tượng thụ hưởng và bảo đảm công bằng. Khi nhà ở xã hội trở thành nguồn lực khan hiếm, nguy cơ trục lợi chính sách luôn hiện hữu. Điều này đòi hỏi phải có hệ thống tiêu chí xét duyệt công khai, minh bạch, ứng dụng công nghệ và dữ liệu dân cư để bảo đảm nhà ở đến đúng người thực sự cần.
Dù còn nhiều chông gai, chuyển từ tư duy “sở hữu nhà” sang “bảo đảm quyền an cư” vẫn là hướng đi đáng kỳ vọng. Đây không đơn thuần là thay đổi trong chính sách nhà ở, mà còn phản ánh năng lực kiến tạo an sinh của quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Bởi sau cùng, một đô thị đáng sống không được đo đếm bằng số lượng những tòa nhà cao tầng, mà bằng việc những người lao động bình thường có cơ hội tìm được nơi ở ổn định, an toàn và yên tâm gắn bó với công việc, thành phố.
Hà Lan
Nguồn Đại Biểu Nhân Dân : https://daibieunhandan.vn/quyen-an-cu-10417880.html