Quyền làm chủ của Nhân dân - nền tảng kiến tạo thể chế và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Quyền làm chủ của Nhân dân - nền tảng kiến tạo thể chế và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc
2 giờ trướcBài gốc
Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài tại phiên thảo luận tổ, thảo luận về các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, chiều 20/1.
Bài viết không chỉ đề ra định hướng nhiệm vụ, mà còn gợi mở nhiều vấn đề quan trọng trong quá trình xây dựng, hoàn thiện thể chế và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thể chế vì Nhân dân - Nhân dân kiến tạo thể chế
Trong dòng chảy đổi mới hôm nay, điều đáng sợ nhất không phải là thiếu ý tưởng, mà là thiếu một cơ chế đủ rộng để lắng nghe trí tuệ xã hội, đủ sâu để chuyển tiếng nói Nhân dân thành chính sách, và đủ bền để giữ niềm tin làm nền tảng cho phát triển. Bài viết của Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài đặt đúng vào “điểm nghẽn” ấy, khi khẳng định dứt khoát: “việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong tham gia xây dựng, hoàn thiện thể chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng”.
Câu chữ ngắn, nhưng tầng nghĩa rất dày. “Đặc biệt quan trọng” vì thể chế không chỉ là công cụ quản lý, mà là khung xương sống của quốc gia, là nơi kết tinh trí tuệ lãnh đạo, kỷ cương pháp luật và hơi thở đời sống. Một thể chế mạnh không thể chỉ mạnh ở tính chặt chẽ, mà còn phải mạnh ở tính thuyết phục; không chỉ đúng về nguyên tắc, mà còn đúng trong trải nghiệm của người dân; không chỉ xây dựng bằng những phòng họp khép kín, mà phải được kiểm nghiệm liên tục bằng mạch đập xã hội. Chính vì vậy, dân chủ- ở nghĩa sâu nhất - không phải “nói cho có”, mà là một phương thức phát triển, một cơ chế để chính sách tự hiệu chỉnh, để quyền lực tự soi, để bộ máy tự đổi mới từ bên trong.
Ở đây, “quyền làm chủ” được nhìn như một năng lực kiến tạo, chứ không chỉ là một quyền năng pháp lý. Nhân dân tham gia xây dựng và hoàn thiện thể chế không phải để “bổ sung thêm tiếng nói”, mà để giúp thể chế có sức sống, có tính khả thi, có độ bám thực tiễn. Khi người dân được tham gia thực chất, quyết sách sẽ bớt độ vênh, bớt rào cản, bớt hình thức. Khi xã hội được phản hồi minh bạch, đồng thuận sẽ bền hơn. Và khi niềm tin xã hội được củng cố, đất nước sẽ có “nội lực tinh thần” - thứ nội lực vô hình nhưng quyết định sức bật của một dân tộc trong mọi giai đoạn bản lề.
Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam đã dẫn lại tinh thần Văn kiện Đại hội XIII như một điểm tựa lý luận - chính trị: “Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Điểm đáng nói là: đặt Nhân dân ở trung tâm không chỉ là xác lập thứ tự ưu tiên, mà là thay đổi cách thiết kế chính sách: từ “ban hành- triển khai” sang “tham vấn- đồng kiến tạo- giám sát-phản hồi”. Đó chính là trục thể chế hiện đại: chính sách không phải một mệnh lệnh hành chính, mà là sản phẩm của trí tuệ tập thể, của đối thoại xã hội, của trách nhiệm giải trình và của văn hóa thượng tôn pháp luật.
Đại đoàn kết là văn hóa đồng thuận và năng lực hành động quốc gia
Nếu thể chế là khung xương, thì đại đoàn kết chính là dòng máu. Không có dòng máu ấy, cơ thể quốc gia không thể khỏe mạnh. Bởi một quốc gia muốn vươn mình không chỉ cần tăng trưởng, mà cần đồng thuận xã hội, niềm tin cộng đồng, và một “tài sản tinh thần” đủ lớn để đi qua biến động. Vì thế, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài nhấn mạnh: “Củng cố, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là yêu cầu cấp thiết, là nhiệm vụ chiến lược”.
Thông điệp này, nếu đọc hết chiều sâu, chính là một lời khẳng định về vai trò của văn hóa trong quản trị quốc gia. Đại đoàn kết không phải là một khẩu hiệu để treo lên trong các dịp lễ lớn. Đại đoàn kết phải trở thành một hệ giá trị, một chuẩn mực ứng xử, một nền văn hóa đồng thuận giúp chúng ta hóa giải khác biệt, điều hòa lợi ích, kết nối cộng đồng và cùng hướng tới lợi ích chung. MTTQ Việt Nam đang ở vào đúng vai trò lịch sử của mình: không chỉ là nơi tập hợp lực lượng, mà là thiết chế trung tâm của khối đại đoàn kết, là nơi kết nối giữa ý Đảng và lòng dân.
Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài viết: “MTTQ Việt Nam… là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân”. “Cầu nối” không thể chỉ hiểu như một kênh truyền đạt một chiều. “Cầu nối” đúng nghĩa là cơ chế hai chiều: Một mặt, đưa chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước tới người dân bằng cách làm gần dân, hiểu dân, hợp lòng dân. Mặt khác, chuyển tải tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị từ cơ sở tới các cơ quan có thẩm quyền bằng tinh thần trách nhiệm, bằng lý lẽ, bằng sức thuyết phục.
Thông điệp này cũng cho thấy một điều rất đáng chú ý: đại đoàn kết thời kỳ mới phải xây dựng bằng cơ chế bảo vệ quyền lợi hợp pháp, bằng kênh đối thoại, bằng giám sát và phản biện xã hội. Tức là: đại đoàn kết phải có “xương sống thể chế”, có “hệ miễn dịch xã hội”. Nhân dân không chỉ được động viên tham gia phong trào, mà còn được bảo vệ bằng pháp luật, được lắng nghe bằng cơ chế, được phản hồi bằng trách nhiệm giải trình. Khi đó, Mặt trận thực sự trở thành nơi “tập hợp niềm tin”- để mỗi người dân thấy mình là một phần của công cuộc kiến thiết đất nước, chứ không đứng ngoài dòng chảy phát triển.
Đoàn đại biểu MTTQ, các đoàn thể Trung ương thảo luận tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Ảnh: Báo Nhân Dân
Ở tầm sâu hơn, đại đoàn kết hôm nay còn là một lời đáp cho thách thức của thời đại số: xã hội càng kết nối nhanh thì càng dễ bị phân mảnh nhanh. Tin giả, xuyên tạc, kích động-nếu không có “văn hóa đồng thuận” và “thể chế phản hồi kịp thời”, sẽ tạo ra những vết nứt trong niềm tin. Vì thế, đại đoàn kết phải đi cùng năng lực quản trị mới, nơi mà mỗi thiết chế biết lắng nghe đúng lúc, xử lý kịp thời, nói rõ ràng, và làm thực chất.
Để chuyển đổi số mở rộng quyền làm chủ thực chất
Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam Bùi Thị Minh Hoài không chỉ nhấn mạnh nguyên lý dân chủ, mà còn đặt ra một yêu cầu rất hiện đại: dân chủ phải có công cụ mới. Khi người dân đã bước vào không gian mạng như một không gian sống, khi cảm xúc xã hội hình thành theo từng giờ, khi dư luận có thể lan truyền chỉ trong vài phút, thì cách “nghe dân” cũng không thể giữ nhịp theo những chu kỳ cũ. Dân chủ, muốn thực chất, phải đi nhanh hơn- minh bạch hơn và phản hồi kịp thời hơn.
Từ điểm tựa truyền thống, Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam nhấn mạnh phương châm nền tảng: “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”-một câu nói đã quen, nhưng nếu đặt vào bối cảnh hôm nay lại mang nội hàm mới: dân không chỉ “biết” qua thông báo, mà còn phải “biết” qua dữ liệu minh bạch; dân không chỉ “bàn” trong hội nghị, mà có thể “bàn” trong không gian số; dân không chỉ “giám sát” bằng cảm tính, mà cần công cụ để giám sát bằng chứng cứ, quy trình và trách nhiệm giải trình.
Điểm mới giàu gợi mở của bài viết nằm ở định hướng số hóa hoạt động lắng nghe và phản hồi xã hội: nắm bắt tình hình Nhân dân trên không gian mạng; tiếp nhận ý kiến đa kênh; phản hồi kịp thời; theo dõi quá trình tiếp thu kiến nghị. Và đặc biệt, việc đề xuất triển khai nền tảng “Mặt trận số”, tiếp nhận ý kiến 24/7, thực hiện “Tháng nghe dân nói” cho thấy tư duy rất rõ: chuyển đổi số không chỉ là câu chuyện kỹ thuật, mà là câu chuyện quản trị dân chủ.
Nếu nhìn bằng tiêu chuẩn quản trị hiện đại, “Mặt trận số” phải được hiểu như một hệ sinh thái của lòng dân: Tiếp nhận – phân loại – chuyển xử lý – theo dõi – phản hồi. Nếu làm tốt, đây sẽ là bước tiến rất lớn: người dân thấy tiếng nói của mình không rơi vào khoảng không; cơ quan nhà nước có thêm dữ liệu sống động để điều chỉnh chính sách.
Quan trọng hơn, chuyển đổi số trong thực hành dân chủ còn gắn trực tiếp với nhiệm vụ bảo vệ đại đoàn kết. Không gian mạng là nơi kết nối, nhưng cũng là nơi dễ bị lợi dụng để chia rẽ. Vì thế, nếu có một cơ chế nắm bắt sớm và phản hồi đúng, thì không chỉ giải quyết từng vụ việc, mà còn giữ được “sợi dây niềm tin” giữ cho khối đại đoàn kết không bị tổn thương.
Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam đặt nhiệm vụ này trong tầm nhìn lớn của nhiệm kỳ Đại hội XIV: Tổ chức bầu cử, tăng cường giám sát, hoàn thiện cơ chế để Nhân dân tham gia sâu rộng hơn vào xây dựng Đảng, Nhà nước, và thực hành dân chủ ở cơ sở. Điều đó cho thấy một triết lý xuyên suốt: muốn đất nước đi xa trong kỷ nguyên mới, phải biết khai mở đầy đủ nguồn lực lớn nhất - nguồn lực Nhân dân.
Trong thời đại số, chuyển đổi số càng không thể chỉ là câu chuyện tiện ích hay tốc độ, mà phải trở thành công cụ mở rộng dân chủ, kết nối lòng dân, giữ gìn đại đoàn kết. Khi thể chế đủ minh bạch, văn hóa đủ bao dung, và công nghệ đủ phụng sự con người, thì quyền làm chủ của Nhân dân sẽ trở thành động lực mạnh nhất đưa đất nước tiến nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.
PGS.TS Bùi Hoài Sơn (Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội)
Nguồn Đại Đoàn Kết : https://daidoanket.vn/quyen-lam-chu-cua-nhan-dan-nen-tang-kien-tao-the-che-va-cung-co-khoi-dai-doan-ket-toan-dan-toc.html