Cần quan tâm bảo vệ môi trường ở cụm công nghiệp, làng tái chế
- Nhìn lại công tác bảo vệ môi trường giai đoạn 2021 - 2025 khi thực hiện Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, ông có nhận xét gì?
- Có thể thấy, công tác bảo vệ môi trường thời gian qua đã luôn được Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các cấp ngành, địa phương quan tâm thực hiện. Minh chứng rõ nhất là thể chế, chính sách từng bước được hoàn thiện, nhất là việc Quốc hội ban hành Luật Bảo vệ môi trường 2020 với nhiều điểm mới mang tính đột phá, như: thúc đẩy phân loại rác thải tại nguồn, góp phần phát triển kinh tế tuần hoàn; quản lý rác thải rắn theo hướng “người gây ô nhiễm phải trả tiền”, thể hiện qua những công cụ chính sách như trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), thu phí rác thải theo khối lượng. Các quy định hướng dẫn thi hành cũng đã được ban hành khá đầy đủ, góp phần đắc lực trong công tác bảo vệ môi trường.
Muốn bảo vệ môi trường, cùng với chính sách phải bố trí nguồn lực thực hiện. Chúng ta đã bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho sự nghiệp môi trường không thấp hơn 1% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng qua các năm, riêng năm 2024 đạt 1,12%. Các nguồn thải lớn đã được kiểm soát chủ động và chặt chẽ, không để xảy ra sự cố môi trường lớn. Công tác quản lý chất thải cũng đã có nhiều chuyển biến, đến hết năm 2024, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt trên 97% ở đô thị và trên 80% ở nông thôn, giảm hình thức chôn lấp. Tỷ lệ che phủ rừng tiếp tục được duy trì ổn định ở mức 42,03% trong năm 2025… Có thể nói, những kết quả đạt được là rất tích cực, tạo nền tảng để công tác bảo vệ môi trường đạt kết quả tốt hơn trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường vẫn còn một số hạn chế. Đúng như Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Dự thảo Báo cáo chính trị) đã nêu: “Ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả, có mặt còn trầm trọng hơn, nhất là môi trường ở các đô thị lớn, khu công nghiệp và các làng nghề”.
Thời gian qua, ô nhiễm không khí ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh rất nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe người dân song vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu. Tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải sinh hoạt, từ các nhà máy, cơ sở vượt chuẩn vẫn còn nhiều điểm nóng. Thu gom xử lý rác thải sinh hoạt đô thị và nông thôn cũng chưa đạt yêu cầu. Bên cạnh đó, nhiều cụm công nghiệp, làng tái chế chưa thực sự quan tâm tới bảo vệ môi trường; đây là vấn đề cần được nhấn mạnh trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV để quan tâm khắc phục.
- Theo ông, căn nguyên của những hạn chế đó là gì?
- Có nhiều nguyên nhân khiến công tác bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều hạn chế. Song, mấu chốt theo tôi là bởi cách nhìn nhận về vấn đề bảo vệ môi trường. Chúng ta luôn khẳng định phát triển kinh tế - xã hội phải hài hòa với môi trường, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng; môi trường cùng với kinh tế, xã hội là ba trụ cột cốt lõi của phát triển bền vững, song thực tế đâu đó trụ cột môi trường vẫn chưa thực sự được đặt ngang hàng với trụ cột kinh tế. Vì vậy, cần thay đổi quan điểm chỉ đạo về bảo vệ môi trường, đó phải được đặt là vấn đề trung tâm cùng với kinh tế, xã hội.
Tôi rất mừng khi Dự thảo Báo cáo chính trị xác định “phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường là trung tâm”. Khi đặt môi trường là trung tâm, chúng ta sẽ thiết kế các chính sách để thực sự đưa nó thành trung tâm và mang tính dẫn dắt, bởi suy cho cùng, sự phát triển đất nước phải mang lại hạnh phúc cho người dân, bao gồm cả vấn đề sức khỏe vốn chịu tác động lớn bởi yếu tố môi trường.
Rõ mục tiêu khắc phục ô nhiễm không khí
- Dự thảo Báo cáo chính trị đặt ra các mục tiêu về môi trường cho giai đoạn 2026 - 2030, như: tỷ lệ che phủ rừng duy trì mức 42%; tỷ lệ xử lý và tái sử dụng nước thải ra môi trường lưu vực các sông đạt khoảng 65 - 70%; lượng phát thải khí nhà kính giảm 8 - 9%; tỷ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường đạt khoảng 98 - 100%; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia. Ông nghĩ sao về tính khả thi của các mục tiêu này?
- Cần nhấn mạnh rằng, các mục tiêu này rất đúng với những vấn đề chúng ta đang đặt ra. Muốn cụ thể hóa, cần gắn trách nhiệm cụ thể, giao KPI cho từng bộ, ngành, địa phương, và phải bố trí nguồn lực đi kèm.
Tuy nhiên, cần bổ sung một số mục tiêu khác để đầy đủ hơn, ví dụ vấn đề xử lý nước thải đô thị, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt, nhất là vấn đề ô nhiễm không khí tại một số đô thị lớn. Điều này cũng phù hợp với phần định hướng về quản lý và sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu trong Dự thảo Báo cáo chính trị, nêu rõ: khắc phục cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở các đô thị lớn, làng nghề, đặc biệt là môi trường không khí ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh. Việc đặt ra mục tiêu ngay trong văn kiện Đại hội XIV sẽ buộc các cấp ngành, địa phương đề ra biện pháp triển khai rõ ràng, không để trầm trọng hơn.
- Theo ông, muốn khắc phục cơ bản tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cần lưu tâm những giải pháp nào?
- Một trong những giải pháp quan trọng là phải thực hiện chuyển đổi xanh. Hiện, chúng ta đang rất nỗ lực và tích cực cho chuyển đổi này, như: phát triển giao thông công cộng; sử dụng công nghệ sản xuất hiện đại, ít phát thải; dùng năng lượng tái tạo thay cho năng lượng hóa thạch; trong xây dựng thì sử dụng công nghệ, vật liệu thân thiện môi trường để giảm bớt bụi… Chuyển đổi xanh đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn. Muốn vậy, phải đồng bộ về mặt chính sách khuyến khích thông qua cơ chế về vốn, tín dụng, công nghệ.
Một yếu tố cực quan trọng nữa là cần liên kết vùng trong giải quyết ô nhiễm không khí. Muốn liên vùng hiệu quả, cần có thông tin, số liệu đầy đủ, minh bạch. Dự thảo Báo cáo chính trị định hướng “xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu quản lý, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu vào cơ sở dữ liệu quốc gia” là hết sức đúng đắn và mang tính chiến lược. Đây sẽ là cơ sở để chúng ta thiết kế chính sách một cách khoa học, gắn với thực tiễn, giải bài toán thực tiễn, xóa bỏ tình trạng “chính sách trên giấy”. Khi có hệ thống dữ liệu dùng chung cũng sẽ phục vụ hiệu quả cho chuyển đổi xanh, nhất là trong tình hình phân cấp mạnh mẽ hiện nay.
Do vậy, ngay sau Đại hội, cần khẩn trương xây dựng và tích hợp cơ sở dữ liệu quản lý, khai thác tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu vào cơ sở dữ liệu quốc gia, làm cơ sở để các cấp ngành triển khai.
- Xin cảm ơn ông!
Đan Thanh thực hiện