Trong bối cảnh AI không thể và cũng không nên bị loại bỏ, vấn đề cốt lõi nằm ở cách con người sử dụng công nghệ này ra sao để biến AI thành trợ thủ hỗ trợ tư duy, thay vì trở thành “bộ não thay thế”. Phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam trò chuyện về vấn đề này với Tiến sĩ (TS) Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và Chuyển giao Tri thức, Trường Đại học Thành Đô.
TS Phạm Hiệp, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Giáo dục và Chuyển giao Tri thức, Trường Đại học Thành Đô
PV: Vấn đề suy giảm nhận thức do AI được đặt ra từ nhiều năm trước đây. Vậy bản chất của việc suy giảm nhận thức do AI có tương tự như việc bị lệ thuộc công nghệ, thưa tiến sĩ?
TS Phạm Hiệp: Thuật ngữ rỗng não, thối não ra đời từ thế kỷ 19 và được dùng rải rác trong suốt hơn 100 năm qua. Gần đây, cùng với sự ra đời mạng xã hội và sự phát triển của AI nên thuật ngữ này được quan tâm nhiều hơn. Khái niệm “rỗng não AI” nói đến hiện tượng con người lười suy nghĩ và mất khả năng tập trung. Sự ra đời của AI đã làm tăng tốc quá trình rỗng não này. Việc suy giảm nhận thức do AI và việc bị lệ thuộc công nghệ xuất hiện tiếp nối nhau. Lệ thuộc công nghệ dẫn đến suy giảm nhận thức.
PV: Việc dựa dẫm quá nhiều vào AI sẽ ảnh hưởng ra sao đến khả năng tư duy độc lập và tư duy sáng tạo?
TS Phạm Hiệp: AI đã được nghiên cứu từ khoảng 40 năm nay. Với những người biết sử dụng AI và sử dụng có trách nhiệm thì AI trở thành một công cụ tốt, giúp người ta thông minh hơn, giỏi hơn, làm việc hiệu quả, năng suất hơn. Nhưng nếu không biết cách dùng thì AI chính là hố sâu chôn vùi những người bị phụ thuộc công nghệ.
Kiến thức của AI chỉ là kiến thức trung bình của thế giới, người ta dễ hài lòng với kiến thức phổ thông đấy, trong khi tiềm năng của cá nhân người dùng rất có thể còn cao hơn AI. Ảnh: KT
Theo lối tư duy thông thường thì người ta sẽ tra cứu, mày mò tìm hiểu, và lấy được kinh nghiệm, bài học từ những lần sai để điều chỉnh. Hiện nay, người ta tiếp nhận tri thức trực tiếp từ AI, gõ câu lệnh là lập tức có kết quả, tuy nhanh và tiện lợi nhưng người dùng bị mất cơ hội được thử và được phép sai theo lối tư duy thông thường.
Việc tiếp nhận tri thức bằng AI nếu không đúng cách và không có năng lực sử dụng AI thì dẫn đến nguy hiểm ở chỗ: Kiến thức của AI chỉ là kiến thức trung bình của thế giới, người ta dễ hài lòng với kiến thức phổ thông đấy, trong khi tiềm năng của cá nhân người dùng rất có thể còn cao hơn AI. Nếu không bị phụ thuộc vào AI mà tự làm thì có thể người ta sẽ tạo ra những kết quả, sản phẩm tốt hơn và có tính sáng tạo vượt bậc. AI có nguy cơ làm trung bình hóa con người, khiến con người mất khả năng tư duy độc lập và đến mức độ cao thì gọi là rỗng não do AI. Đó là chưa kể đôi khi thông tin từ AI không chính xác bởi nguồn thông tin gốc bị sai lệch.
Những người bị rỗng não AI bị mất khả năng tập trung, tư duy sáng tạo, tư duy độc lập, kỹ năng xử lý thông tin, dễ bị đánh lừa bởi thông tin sai lệch từ AI, không có nhu cầu giao tiếp xã hội và quanh quẩn trong một thế giới riêng của họ.
PV: Theo ông, những nhóm đối tượng nào dễ bị “rỗng não AI”?
TS Phạm Hiệp: Trẻ em ở độ tuổi đi học là nhóm đối tượng dễ bị rỗng não AI nhất. Nhóm đối tượng này sinh ra trong thời đại công nghệ, lại không có sự hỗ trợ, can thiệp kịp thời từ người lớn, vì thế, chưa biết sử dụng AI đúng mức, dễ bị lệ thuộc vào AI.
Những người làm việc tri thức cũng dễ bị ảnh hưởng bởi rỗng não AI, nhưng nếu thực sự có năng lực, họ sẽ biết cách sử dụng AI một cách thông minh và phù hợp. Họ có khả năng tìm kiếm những nguồn tài liệu, hướng dẫn từ AI nhanh chóng, hiệu quả, đồng thời biết cách điều chỉnh hành vi học tập, làm việc, nghiên cứu dựa vào AI một cách có trách nhiệm. Tuy nhiên, có một điều đáng lo ngại là với những người có trình độ, năng lực, nhưng nếu thiếu đạo đức, thiếu trách nhiệm thì họ sẽ lợi dụng AI để tạo ra những sản phẩm có lợi cho họ nhưng không có lợi cho cộng đồng.
Những người bị rỗng não AI bị mất khả năng tập trung, tư duy sáng tạo, tư duy độc lập, kỹ năng xử lý thông tin. Ảnh: KT
PV: Hiện nay, không ít học sinh, sinh viên sử dụng AI để giúp làm bài tập. Vậy đâu là ranh giới giữa việc dùng AI để hỗ trợ học tập và dùng AI để làm thay tư duy, thưa tiến sĩ?
TS Phạm Hiệp: Nếu coi AI giống như một đối tác học tập sẽ tận dụng được nó rất tốt. Chúng ta trao đổi với nó, thay vì phải đi gặp chuyên gia, và không bị mất nhiều thời gian để tra trên google, những cuốn tự điển hoặc bách khoa toàn thư. Tuy nhiên, cần phải có năng lực sử dụng và đánh giá thông tin mà AI đưa ra, và dùng AI một cách có trách nhiệm. Nếu học sinh sử dụng AI một cách vô tội vạ, thậm chí AI cung cấp tư liệu gì cũng không kiểm chứng đúng sai, không hiểu thông tin đó mà cho ngay vào bài sẽ khiến năng lực tư duy độc lập và phản biện của mình bị bào mòn, thui chột. Ở từng môn học, bậc học, từng lĩnh vực cũng phải có quy định về trách nhiệm và giới hạn khi sử dụng AI.
Có một nguyên lý bất di bất dịch, đấy là con người phải chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình. Ví dụ, học sinh, sinh viên làm bài thì được quyền tham khảo AI, nhưng phải hiểu nội dung trong bài và chịu trách nhiệm với từng câu, từng chữ bởi đó là sản phẩm của bạn ấy, chứ không phải sản phẩm của AI. Nguyên lý này cũng áp dụng với tất cả đối tượng, ngành, nghề, lĩnh vực, đồng thời phải có cơ chế giám sát chéo.
PV: Có ý kiến cho rằng, AI là nguyên nhân chính của suy giảm nhận thức. Quan điểm của ông về việc này thế nào?
TS Phạm Hiệp: AI không có lỗi. Nó cũng giống như mọi sự phát kiến về công nghệ. Nếu dùng AI một cách có trách nhiệm, không dựa dẫm, ỷ lại, đồng thời cơ quan chức năng, nhà trường, các đơn vị có những hướng dẫn, quy chuẩn dùng AI thì AI không thể làm con người bị “rỗng não”.
Để quản lý việc dùng AI, chỉ cần yêu cầu người dùng phải kê khai là đã dùng AI ở mức nào và hiểu được những kiến thức lấy từ AI. Nếu không làm được yêu cầu đó, chứng tỏ đã dùng AI một cách vô trách nhiệm. Nếu là học sinh, sinh viên thì sẽ bị trừ điểm. Hoặc sẽ có những bài kiểm tra hoàn toàn không có internet, có những câu hỏi bẫy trong bài kiểm tra. Nói chung, AI không thể hơn được con người, chẳng qua con người có chịu động não, có chịu phát triển để hơn được AI không.
Dù được phép tham khảo AI, con người vẫn phải chịu trách nhiệm về sản phẩm mình tạo ra. Ảnh: KT
PV: Ông có thể đưa ra một số gợi ý về cách sử dụng AI lành mạnh để tránh bị “rỗng não AI”? Phải chăng “câu lệnh” cho AI cũng rất quan trọng trong vấn đề để kích thích tư duy, thay vì chỉ xin đáp án?
TS Phạm Hiệp: Hiện nay, trong bối cảnh AI không thể và cũng không nên bị loại bỏ, việc mỗi một người dùng AI là điều gần như không thể tránh khỏi. Vấn đề cốt lõi là sử dụng AI thế nào để giúp con người học sâu hơn, sáng tạo hiệu quả hơn. Trong câu chuyện này, vai trò của cơ quan chức quản lý nhà nước, những đơn vị nghề nghiệp, những đơn vị chức năng và những người hiểu biết về nó, những người trong đơn vị sản xuất công nghệ AI rất quan trọng và phải chịu trách nhiệm đầu tiên.
Với người dùng, kỹ năng đặt câu lệnh cho AI thể hiện năng lực của người đó. Năng lực tốt sẽ đặt được câu lệnh chuẩn để nhận được kết quả, câu trả lời chất lượng. Và điều này phụ thuộc vào việc người dùng AI phải hiểu về chủ đề mình làm, phải lưu trữ tốt nội dung làm việc với AI.
PV: Theo tiến sĩ, các công ty công nghệ có trách nhiệm gì trong việc giảm tác động tiêu cực của AI lên nhận thức người dùng?
TS Phạm Hiệp: Các công ty công nghệ là đơn vị sản xuất những sản phẩm AI, hoặc đưa ra sản phẩm lõi là những thuật toán, hay đưa ra các sản phẩm dựa trên nền tảng AI sẵn có thì phải có trách nhiệm minh bạch về những bản chất cốt lõi của công cụ AI mà họ làm, phải đưa ra những hướng dẫn liên quan về sản phẩm đó, phải nói rõ về quy trình tạo ra công cụ AI đó.
Đảng, Chính phủ rất quan tâm đến vấn đề này. Mới đây, Luật Trí tuệ nhân tạo (AI) đã được Quốc hội thông qua, có hiệu lực từ 1/3/2026. Đây là đạo luật đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh toàn diện về phát triển, ứng dụng và quản trị AI. Với việc này, Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia có khung pháp lý toàn diện về AI.
PV: Nếu phải gửi một thông điệp đến những người dùng AI, ông sẽ nói gì với họ, thưa tiến sĩ?
TS Phạm Hiệp: Hãy biến AI trở thành trợ lý của mình, thay vì trở nên lệ thuộc vào nó.
PV: Xin cảm ơn tiến sĩ về cuộc trò chuyện này!
Ngọc Vũ/VOV.VN