Mỗi tộc người đều trải qua các thời kỳ phát triển khác nhau về tất cả các lĩnh vực như văn hóa, xã hội, khoa học - kỹ thuật... Ở mỗi thời điểm sẽ đánh dấu một hoặc nhiều bước ngoặt làm thay đổi các phương diện trong đời sống tinh thần và xã hội của tộc người đó. Quan trọng nhất có thể nói đến là sự xuất hiện của lời nói. Khi lời nói được con người sử dụng phổ biến rộng rãi, nhu cầu ghi chép lại cũng xuất hiện, vì thế chữ viết cũng dần được con người sáng tạo ra. Đối với người Khmer, các ký tự chữ viết được ghi lại trên bia đá trước khi có giấy. Và trong chiều dài phát triển, người Khmer đã tìm ra một loại lá cây có thể viết và lưu lại chữ viết - đó chính là lá buông, tiếng Khmer gọi là lá T’răn.
Tấm lá buông loại nhỏ nên mỗi lá chỉ viết được khoảng 5 hàng, mỗi hàng chừng 20 chữ
Ông cha xưa đã tận dụng dùng lá buông để viết, khắc chữ, trong đó có những bộ kinh pháp về nguồn gốc, lịch sử của Đức Phật. Đa số trong tất cả bộ kinh thì khắc về lời dạy của Đức Phật, ca dao – tục ngữ ông cha ta ngày trước. Đó cũng là một nét văn hóa đặc trưng đặc sắc của đồng bào dân tộc Khmer.
Mở đầu cuộc trò chuyện cùng Hòa thượng Chau Ty (84 tuổi), trụ trì chùa Soài So (ở Núi Tô, xã Tri Tôn, tỉnh An Giang) - hiện là người duy nhất ở An Giang nắm giữ kỹ thuật viết chữ trên lá buông và là truyền nhân đời thứ 9 của sãi cả chùa Xvay Ton; đồng thời được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu NNƯT năm 2015 và danh hiệu NNND năm 2019 – hòa thượng đã khẳng định Sách lá buông là một phần rất đặc biệt trong đời sống văn hóa – tinh thần của người Khmer Nam Bộ, nó cũng ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa đọc của người Việt Nam, nhất là ở khu vực miền Tây.
Hòa thượng Chau Ty (84 tuổi), trụ trì chùa Soài So (ở Núi Tô, xã Tri Tôn, tỉnh An Giang) - hiện là người duy nhất ở An Giang nắm giữ kỹ thuật viết chữ trên lá buông
Tấm lá buông loại nhỏ nên mỗi lá chỉ viết được khoảng 5 hàng, mỗi hàng chừng 20 chữ. Chính vì thế, người viết phải biết cách thể hiện nội dung như thế nào cho súc tích, gói gọn trong khuôn khổ tấm lá. Có khi một nội dung được viết đến 5, 7 hoặc 10 tấm lá. Khâu kết những tấm lá thành một quyển kinh cũng rất công phu.
Bắt đầu học khắc chữ trên lá buông từ năm 24 tuổi, Hòa thượng Chau Ty cho biết việc chọn lựa lá buông là một quá trình dài và rất kỳ công, đòi hỏi phải chọn loại lá khỏe, không quá non hoặc già vì nó dễ phai chữ khi viết: "Khó khăn trong việc khắc chữ trên lá buông, đầu tiên phải kể đến là công đoạn làm được lá để khắc được. Lá phải lên núi, lên rừng để chặt đọt lá non. Chặt về rồi lại qua rất nhiều công đoạn như hơ lửa, phơi nắng, phơi sương, kẹp lại chết sợi lá cho nó có độ phẳng. Phải đầy đủ công đoạn mới hoàn thiện việc đánh hàng chữ, khắc chữ".
Trong các công đoạn để viết kinh lá buông thì kỹ thuật khắc chữ lên lá là giai đoạn kỳ công nhất, đòi hỏi sự kiên nhẫn và tập trung của người viết. Bởi trong quá trình viết, nếu sai một chữ là hư toàn bộ lá kinh đó, phải viết lại từ đầu. Người Khmer gọi việc ghi chép trên lá buông là “char” nghĩa đúng nhất là “khắc”. Công việc này được thực hiện bằng một cây bút có ngòi sắt nhọn (Dek-cha), loại bút làm bằng gỗ với ngòi có một đoạn thép được gắn chắc chắn với thân, ngòi được mài giũa rất bén để đảm bảo khi khắc có thể ăn một khoảng sâu vào trong lá. Trong lúc khắc chép, tay phải cầm bút, còn tay trái giữ lá cho vững, phần ngọn bút được tựa trên ngón cái của tay trái, phải có sự phối hợp nhịp nhàng cả tay cầm bút và ngón tay cái tựa đầu bút làm sao khi khắc lên từng chữ có độ lớn bằng nhau, không sâu quá.
Có nhiều bộ kinh sách nói về truyền thống thông qua các lễ hội như Chôl Chơnam Thmây, đắp núi cát, nghi thức tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Khmer…
Mực để chà lên lá cũng là một loại nguyên liệu được làm khá công phu, than hoặc lõi than bên trong pin sau khi tán nhuyễn xong sẽ trộn đều với dầu chai và dầu hỏa, sau đó chà lên các lá kinh đã khắc chữ, để chữ nổi màu dễ đọc. Các lá kinh sau khi chà mực rồi đem phơi khô và xử lý vệ sinh một lần nữa mới được gọi là hoàn thành. Công đoạn cuối cùng là đóng chúng lại thành xấp, phân loại kỹ càng và bảo quản trong túi vải để tránh bị ẩm mốc.
Với hàng ngàn quyển sách viết bằng tiếng Pali, tiếng Khmer cổ trên lá và lá buông sưu tầm được, Hòa thượng Lý Hùng – Ủy viên hội đồng trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Pitu Khôsa Răngsây (ở phường Ninh Kiều – TP. Cần Thơ) khẳng định việc viết kinh, mẫu chuyện trên lá buông không đơn thuần là sao chép lại văn bản đã có, mà người viết phải hiểu và đọc được loại chữ Pali, chữ Khmer cổ, với nhiều nét viết rất khó; đồng thời phải có kiến thức về đạo lý Phật giáo để lựa chọn ra những lời dạy của Đức Phật phù hợp với nhận thức của cộng đồng.
Trong các công đoạn để viết kinh lá buông thì kỹ thuật khắc chữ lên lá là giai đoạn kỳ công nhất, đòi hỏi sự kiên nhẫn và tập trung của người viết
Loại chữ này cần phải thật kiên trì mới học và thông thạo hết từng nét, rất khác với loại chữ viết mà người Khmer của vùng ĐBSCL hiện đang sử dụng: "Có nhiều bộ kinh nói về truyền thống thông qua các lễ hội như Chôl Chơnam Thmây, đắp núi cát, nghi thức tín ngưỡng của đồng bào dân tộc Khmer… Còn những bộ kinh lá buông cổ thì có nhiều dạng, ví dụ như một bộ có nhiều tập thuyết pháp, nhiều tập nói về tiền thân của đức Phật, nhiều bộ ngắn nói về nghi thức – nghi lễ của đồng bào dân tộc Khmer".
Theo các chuyên gia, trước đây sách lá buông có bốn loại gồm: Satra rương (kinh lá buông viết truyện), Satra lbeng (kinh lá buông viết về hội hè, trò chơi dân gian), Satra chbăp (kinh lá buông viết về lời giáo huấn), Satra thês (kinh lá buông viết về Phật thoại, kinh Phật dùng để thuyết giảng kinh kệ Phật giáo).
Năm 2017, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận “Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông của người Khmer” là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia
Ngoài cách phân chia trên có thể phân loại Satra thành nhóm như sau: Nhóm thứ nhất - Satra viết về kinh Phật và Phật tích; Nhóm thứ hai - Satra Pa-vê-ney bao gồm các bộ nói về văn hóa truyền thống của người Khmer gồm các lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng, lễ hội, phong tục, tập quán, chuyện kể, sử tích, thần thoại,...; Nhóm thứ ba - Satra Sêch-sa là các cuốn Satra bao gồm các bộ kinh lá buông dùng để học tập hay nói cách khác là sách giáo khoa dùng trong giáo dục dành để sử dụng trong công tác giảng dạy và học tập tại trường chùa.
Nhận định đây là nét văn hóa độc đáo và là sản phẩm vô giá trong tôn giáo Nam tông Khmer, năm 2017, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch công nhận “Tri thức và kỹ thuật viết chữ trên lá buông của người Khmer” là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Sự công nhận này có ý nghĩa quan trọng đối đồng bào dân tộc người Khmer khi sách lá buông không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi một cộng đồng, mà còn góp phần làm giàu thêm văn hóa đọc chung của người Việt Nam, đặc biệt ở Nam Bộ.
Đây là Bài 1: “Sách lá buông – từ chữ khắc Khmer cổ đến Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia” trong loạt 3 bài “Diệu kỳ kho tàng văn hóa Khmer cổ mang tên “Sách lá buông – Satra”. Bài 2 sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng của sách lá buông tại các chùa Phật giáo Nam tông Khmer, trong đó có khoảnh khắc kỳ diệu chùa cháy – sách kinh lá buông không cháy. Ngọn lửa ấy đã thêu dệt nên những tâm hồn khát khao lưu giữ loại sách cổ này mặc dù nguồn nguyên liệu lá buông ngày một khan hiếm và người biết viết kinh trên lá không còn nhiều.
Hồng Phương – Ngọc Tươi – Thạch Hồng - Hữu Hiền/VOV-ĐBSCL